Để khoa học công nghệ là “chìa khóa vàng”

KTNT Trong thời đại ngày nay, khoa học và công nghệ tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội, nhất là việc thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, địa phương trong một quốc gia cũng như giữa các quốc gia trong thời gian ngắn nhất… Khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất đặc biệt, là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Điều này thể hiện rất rõ trong kết quả phát triển kinh tế - xã hội nước ta nói chung và sản xuất nông nghiệp, đời sống nông dân và xã hội nông thôn nói riêng những năm gần đây. Thành quả của khoa học và công nghệ, đặc biệt là việc áp dụng thành tựu của khoa học công nghệ đã đem đến cho kinh tế, xã hội nước ta một diện mạo mới về nhiều mặt, đặc biệt ở khu vực nông nghiệp, nông thôn. Cụ thể là, cùng với việc thực hiện khoán 10, áp dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, quy trình kỹ thuật, tổ chức sản xuất, năng suất cây trồng - vật nuôi của ta liên tục tăng trưởng, có thể nói, năng suất sinh học một số sản phẩm nông nghiệp của ta đứng hàng đầu thế giới. Điều này đã tạo ra khối lượng nông sản lớn, không chỉ đủ dùng trong nước với dân số ngày càng tăng trong khi diện tích canh tác không những không tăng mà còn thu hẹp dần để phục vụ công nghiệp hóa và đô thị hóa.

Tuy nhiên, khoa học công nghệ nói chung và khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp nói riêng của ta chưa đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất hàng hóa phù hợp thị hiếu từng thị trường, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, chưa có sự liên kết giữa các cơ sở nghiên cứu với nhau cũng như với chủ thể áp dụng là nông dân. Doanh nghiệp – đầu tàu, đầu mối quan trọng thúc đẩy nghiên cứu còn đứng ngoài cuộc…

Bước vào năm 2016, nước ta tiếp tục tiến trình hội nhập sâu và rộng vào kinh tế thế giới, điều này mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức, đặc biệt là, nếu năng suất lao động và chất lượng sản phẩm không được nâng cao thì khả năng cạnh tranh sẽ rất khó khăn; thua ngay trên sân nhà là điều có thể xảy ra. Điều đó chỉ có thể được cải thiện nếu hàm lượng khoa học công nghệ trong chuỗi sản phẩm và mỗi sản phẩm được nâng lên.

Vấn đề là cơ chế để khoa học công nghệ vào cuộc sống. Việc thực hiện khoán 10 trong nông nghiệp những năm 80 của thế kỷ trước đã được áp dụng đối với các cơ sở nghiên cứu khoa học nhưng có lẽ do sự chưa đồng nhất nên các đơn vị khoa học cũng chưa phát huy được khả năng vì nhiều lý do, thiếu vốn, thiếu trang thiết bị, thiếu nguồn nhân lực,…

Để khoa học công nghệ phục vụ cuộc sống nhiều hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn, các đơn vị khoa học công nghệ phát huy được khả năng, phải có sự tham gia của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể đặt hàng, doanh nghiệp  tham gia đầu tư cùng cơ quan khoa học. Hiện nay, cơ quan khoa học nghiên cứu, thành công thì doanh nghiệp mua chứ chưa đồng hành cùng để nghiên cứu. Các hợp tác xã chưa đủ lực để tham gia cùng cơ quan khoa học. Cơ chế đặt hàng của Nhà nước chưa rõ ràng. Nên chăng, Nhà nước (bộ, địa phương) đặt hàng, viện nghiên cứu, cơ quan khoa học nào làm có kết quả được kiểm nghiệm thì được thanh toán. Đó cũng là cách để các cơ quan khoa học lôi kéo doanh nghiệp tham gia vào các chương trình nghiên cứu và là cách giúp các cơ sở nghiên cứu giải quyết những khó khăn tồn tại lâu nay.

Hiền Anh

 

 

 

KTNT

Ý kiến của bạn