Hiểu HIV, sẽ không đáng sợ!

KTNT Nhiều bệnh nhân HIV chia sẻ: Họ sợ sự kỳ thị, xa lánh của người không hiểu về HIV đối với người có HIV hơn mọi nỗi sợ hãi.

tr9a.jpg
Giờ đây, mỗi khi gặp những đứa trẻ mang trong mình căn bệnh HIV, cô Hoàn lại như gặp hình ảnh con mình ở đó. Ảnh: Zing

 

Sự lạc quan của cô giáo nhiễm HIV

Năm 2001 đối với cô giáo Nguyễn Thị Hoàn (giáo viên dạy văn Trường THPT Mỏ Trạng, Yên Thế, Bắc Giang) là năm có nhiều dấu mốc vui có, buồn có…, mãi mãi không thể xóa nhòa trong tâm trí. Đầu năm, cô Hoàn xây dựng gia đình, cuối năm thiên thần nhỏ của hai người chào đời. Đây cũng là thời khắc cô bị nghi nhiễm HIV.

Dù vẫn giữ cho mình niềm tin nhưng cũng có lúc, cô hoài nghi vào số phận. Hạnh phúc không trọn vẹn, vài tháng sau, cô đưa con vào bệnh viện khám, như tiếng sét đánh ngang tai khi cô cầm “bản án tử hình” trên tay. Khi đó, cô mới bước sang tuổi 25, tuổi đời còn quá trẻ. Đau lòng hơn, cô bị phơi nhiễm HIV từ chính người chồng đầu ấp tay kề.

Gần 20 năm lặng lẽ trôi qua, căn bệnh HIV đã cướp đi của cô chồng con và cả người em trai chỉ trong thời gian ngắn. Từng ấy năm, chưa một thời khắc nào cô nguôi thương nhớ họ.

“Tôi có một chút giận, một chút trách số phận nhưng chưa bao giờ tôi oán trách hay hận thù, nhiều khi còn là sự cảm thông, xót xa. Họ, những người thân của tôi khi tâm sinh lý chưa ổn định, nhân cách chưa hình thành rõ rệt, đã không thể chống lại ảnh hưởng tiêu cực của xã hội, trở thành nạn nhân của ma túy, HIV”, cô giáo Hoàn tâm sự.

Nói rồi cô nhớ lại khoảng thời gian đầu khi đón nhận thông tin mình bị căn bệnh thế kỷ. Không chỉ là sự đau đớn từ tâm can, cô Hoàn còn phải đối diện với sự kỳ thị của xã hội. Nhưng với cô, đó là lẽ tất nhiên của cuộc sống. Gần 20 năm trước, thời điểm dân trí chưa cao, thông tin về HIV còn hạn chế, việc phải đối mặt với kỳ thị là không tránh khỏi.

“Tôi thấy mình là người may mắn hơn  nhiều người khác bị HIV vì tôi làm việc trong môi trường có tính nhân văn cao. Dần dần tôi nhận ra, giá trị sống của mình ở đâu, mình sống vì cái gì? Tôi tập thói quen bỏ ngoài tai những búa rìu dư luận, không để mình bị tác động bởi những ánh mắt kỳ thị, tìm những việc tích cực để làm”, cô trải lòng.

Nhớ lại những ngày đầu khi xuất hiện công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, cô đón nhận rất nhiều sự ngạc nhiên của mọi người. Lúc ấy, cô chỉ mỉm cười. Với người phụ nữ này, HIV là bệnh nguy hiểm đến tính mạng, lấy đi của người ta nhiều cơ hội nhưng cô lúc nào cũng gạt bỏ tâm lý e ngại, sẵn sàng chia sẻ.

Khi nhận lời tham gia các chương trình truyền thông, truyền hình, cô luôn nghĩ việc mình nói để mọi người lắng nghe cũng là cách giúp mình gần hơn với mọi người. Đó không chỉ giúp cho mình mà còn là giúp cho người bị HIV có cơ hội được xã hội cảm thông và nhìn nhận đúng đắn.

Cô vẫn lên lớp, vẫn miệt mài trên bục giảng. Câu chuyện về cuộc đời mình vẫn được cô kể cho học trò nghe. Với cô giáo Hoàn, đó cũng là cách xây dựng kỹ năng sống cho các em, đặc biệt là học sinh THPT.

Các nghiên cứu khoa học gần đây chỉ ra rằng, một người uống thuốc kháng virus (ARV) hàng ngày theo hướng dẫn, đạt được và duy trì tải lượng ở mức không phát hiện được, không có nguy cơ lây truyền HIV qua đường tình dục cho bạn tình âm tính.

Người đầu tiên được chữa khỏi HIV giờ ra sao?

Mới đây, sau 12 năm sống khỏe mạnh và không còn virus HIV trong cơ thể, Timothy Ray Brown, bệnh nhân được chữa khỏi HIV đầu tiên trên thế giới, rất vui khi biết người thứ hai được điều trị khỏi căn bệnh thế kỷ cũng bằng chính phương pháp cấy ghép tủy xương tương tự như ông.

12 năm trước, Timothy được xác nhận chữa khỏi HIV. Người ta cho rằng, việc ghép tủy để điều trị bệnh ung thư - từ tủy một người miễn nhiễm với HIV - đã giúp tiêu diệt virus trong cơ thể ông.

 

tr9.jpg
Timothy Ray Brown không còn đơn độc trong cuộc chiến chống HIV. Ảnh: Sciencemag.

 

Timothy được gọi là “người đàn ông Berlin”, phát hiện bị nhiễm HIV từ năm 1995 khi bắt đầu bước vào ngưỡng cửa trường đại học ở Berlin (Đức). Sau 10 năm chấp nhận các loại thuốc chữa trị, mọi thứ vẫn rất ổn với ông. Cho đến năm 2006, ông bắt đầu ốm yếu và đi lại khó khăn. Bác sĩ chẩn đoán Timothy bị bệnh bạch cầu dạng nguy hiểm.

Tiến sĩ Geru Huetter, bác sĩ điều trị trực tiếp cho Timothy, quyết định thử cách điều trị mới bằng cấy ghép tế bào tủy gốc thay thế. Huetter hy vọng việc cấy ghép thành công sẽ giúp hệ thống miễn dịch bị tổn thương với HIV được thay thế bằng tủy có thể chống virus. Biện pháp này còn giúp ông thoát khỏi bệnh bạch cầu.

Năm 2008, ông phải dành phần lớn thời gian để điều trị tại bệnh viện. Cuối cùng, sau nhiều lần xét nghiệm, bác sĩ không tìm thấy virus HIV trên cơ thể người đàn ông này.

Tuy được chữa khỏi thành công, chính Timothy cũng không thể tin là mình đã khỏi bệnh cho tới khi tiến sĩ Huetter công bố một báo cáo về kết quả điều trị trên Tạp chí thuốc New England  năm 2009.

Sau khi khỏi bệnh, Timothy cho biết, ông không muốn mình là người duy nhất được chữa khỏi HIV mà mong có nhiều người được chữa trị thành công hơn thế. Ông mở ra Quỹ Timothy Ray Brown, nhằm thu hút các nguồn đầu tư và tài trợ để hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động nghiên cứu và chữa trị các bệnh nhân mắc căn bệnh thế kỷ này.

Người đàn ông này tiết lộ công khai rằng, vài năm trước, ông bắt đầu uống PrEP - điều trị dự phòng trước phơi nhiễm - loại thuốc hàng ngày làm giảm nguy cơ mắc HIV. Mặc dù hệ thống miễn dịch của Timothy hiện đã kháng HIV, ông có thể bị tái phát nếu tiếp xúc với một chủng HIV ít phổ biến hơn, sử dụng một loại thụ thể khác để xâm nhập vào tế bào...

Nhiễm HIV không còn là bệnh vô phương

Theo Cục Phòng chống HIV/AIDS (Bộ Y tế), 95% số người nhiễm HIV được điều trị ARV có tải lượng virus dưới ngưỡng ức chế, giảm nguy cơ lây truyền.

Hiện, cả nước có gần 140.000 bệnh nhân đang điều trị ARV và có thể sử dụng K=K mở rộng độ bao phủ điều trị.

PGS.TS. Nguyễn Hoàng Long, Cục trưởng Cục Phòng, chống HIV/AIDS, cho rằng, mục tiêu của chiến dịch truyền thông K=K nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng nói chung và người nhiễm HIV, người cung cấp dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS về nội dung và ý nghĩa của thông điệp: Không phát hiện = Không lây truyền (K=K). Từ đó, làm thay đổi quan niệm: nhiễm HIV không còn là bệnh “vô phương cứu chữa” mà là truyền nhiễm mạn tính có thể dự phòng và điều trị được.

 

tr9b.jpg
Hình ảnh tuyên truyền về thông điệp K = K.

 

“Chúng ta có thể đạt được mục tiêu 90-90-95 (90% tổng số người nhiễm HIV biết được tình trạng nhiễm của bản thân; 90% số người biết được tình trạng nhiễm của bản thân được điều trị kháng HIV; 95% số người được điều trị ARV có tải lượng dưới ngưỡng ức chế, giảm nguy cơ lây truyền) và kiểm soát được dịch với K=K”, PGS.TS. Nguyễn Hoàng Long nói.

Theo Cục Phòng, chống HIV/AIDS, tải lượng virus dưới 200 bản sao/ml máu được xác định là ngưỡng không phát hiện. Bằng chứng khoa học này được gọi là “Không phát hiện = Không lây truyền”. Đây là phát hiện quan trọng, nếu được truyền thông và quảng bá rộng rãi, sẽ giúp người có hành vi nguy cơ tăng cường xét nghiệm sớm HIV. Người được chẩn đoán nhiễm HIV sống tích cực, tiếp cận sớm dịch vụ điều trị và tuân thủ điều trị, xét nghiệm tài lượng HIV định kỳ. Đồng thời, điều này cũng giúp người cung cấp dịch vụ và cộng đồng giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS.

Trên thế giới, hiện đã có sự đồng thuận rất lớn về thông điệp K = K. Tính đến ngày 30/7/2019, đã có 895 tổ chức từ 98 quốc gia chia sẻ thông điệp này. Thông điệp K = K đã được dịch sang hơn 25 ngôn ngữ.

Bà Nguyễn Thị Thủy, điều phối tổ chức Nơi Bình Yên chia sẻ về tác động của thông điệp K = K đối với cộng đồng: “Quá trình triển khai K = K, chúng tôi thấy rằng đây là thông điệp quan trọng và ý nghĩa cho cộng đồng để họ tự tin hơn trong việc sử dụng các dịch vụ dự phòng và điều trị HIV”.

Phó đại sứ Mỹ tại Việt Nam Caryn R.McClelland cho biết, Việt Nam là một trong những nước tiên phong trong các hoạt động K = K do đã sớm đưa phát hiện này vào các chính sách và chương trình quốc gia. Việt Nam được đánh giá là có tỷ lệ ức chế virus HIV thuộc hàng cao nhất thế giới.

Bà Caryn cho rằng, nên khuyến khích tất cả người có nguy cơ đi xét nghiệm HIV với mục đích điều trị sớm bằng thuốc kháng virus cho những người có HIV, và điều trị dự phòng trước phơi nhiễm hay gọi là PrEP với mục đích dự phòng cho những người âm tính với HIV. Bằng cách này, có thể ngăn chặn sự lây truyền HIV.

 

PrEP giúp giảm 90% nguy cơ lây nhiễm HIV

Điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV (PrEP) giúp cho những người chưa bị nhiễm HIV nhưng có nguy cơ cao, có thể dự phòng lây nhiễm HIV bằng cách uống 1 viên thuốc mỗi ngày.

Tuân thủ uống thuốc hằng ngày có thể giảm nguy cơ lây nhiễm lên tới trên 90%.

Từ năm 2015, WHO đã khuyến cáo sử dụng PrEP (như là một phần của chiến lược dự phòng HIV toàn diện bao gồm cả việc sử dụng bao cao su) ở những người có nguy cơ lây nhiễm HIV cao.

 

 


 

Chanh (tổng hợp)

Ý kiến của bạn