Ngành rau quả và thị trường EU: Cơ hội rất lớn

KTNT Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) mở ra cơ hội cho các mặt hàng nông sản tại thị trường EU, đặc biệt là rau quả.

Nhưng để đạt kết quả như mong muốn, nhà vườn, các doanh nghiệp cần nắm bắt được yêu cầu của từng thị trường với các tiêu chuẩn khắt khe của đối tác.

 

t18.jpg
Dây chuyền chế biến trái cây xuất khẩu của Công ty Cổ phần Nafoods miền Nam.

 

Lợi thế cạnh tranh

Theo Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam Đặng Phúc Nguyên, trước khi EVFTA có hiệu lực, rau quả Việt Nam xuất khẩu vào EU đã được hưởng mức thuế suất ưu đãi (GSP), nhưng vẫn ở mức khá cao (10 - 20%). Từ ngày 1/8/2020, EVFTA có hiệu lực, khoảng 94% trong tổng số 547 dòng thuế nhóm hàng rau, quả tươi và chế biến được EU cắt giảm về 0%, trong đó có nhiều mặt hàng rau, quả là thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam. Đây là lợi thế cạnh tranh rất lớn so với các mặt hàng rau, quả của Thái Lan, Trung Quốc, khi họ chưa có hiệp định thương mại tự do với EU.

Riêng với mặt hàng rau quả, EVFTA khác biệt so với các FTA ký trước đó, không có hạn chế về mặt hàng và kim ngạch, nên không phải đàm phán từng mặt hàng cụ thể. Việt Nam có thể xuất khẩu bất cứ loại rau quả nào sang EU, miễn là mặt hàng đó được sản xuất tại Việt Nam và đáp ứng đủ tiêu chuẩn.

Cụ thể, những mặt hàng Việt Nam đang xuất khẩu thô thì thuế không thay đổi nhiều, do đang ở mức thấp, 0 - 5%; nhưng những mặt hàng đã qua chế biến và chế biến sâu, thì thuế sẽ chênh lệch nhiều, giảm từ mức trên dưới 10% xuống 0%.

Khẳng định về sự gia tăng số lượng đơn hàng xuất khẩu, ông Nguyên cho rằng, chắc chắn, các mặt hàng rau quả xuất khẩu sang EU sẽ tăng. Năm 2019, Việt Nam xuất khẩu rau quả sang EU đạt kim ngạch 148 triệu USD, tăng 28,5% so với năm 2018, nhưng mới chỉ chiếm 0,08% tổng nhu cầu nhập khẩu rau, quả của EU.

“Với cơ hội từ EVFTA, rau quả Việt Nam sẽ tăng thị phần tại EU. Tôi cho rằng, năm nay, kim ngạch xuất khẩu tăng lên, nhưng không nhiều, khoảng 200 triệu USD, do chúng ta phải thích nghi với hàng rào kỹ thuật, cộng thêm hiện tại vấn đề vận chuyển còn khó khăn khi tình hình dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp”, ông Nguyên chia sẻ.

Thêm nữa, Việt Nam có khí hậu nhiệt đới nhưng lại có mùa đông lạnh ở miền Bắc và một số nơi miền Trung - Tây Nguyên có khi hậu cận nhiệt do độ cao. Đây là lợi thế rất quan trọng, đem lại hiệu quả cao nếu tận dụng tốt.

Quan tâm hơn về thị trường

Hiện tại, nông sản của Việt Nam vẫn sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, người nông dân cần phải liên kết với doanh nghiệp hình thành các vùng trồng có diện tích lớn, áp dụng phương thức trồng trọt an toàn theo các quy chuẩn như VietGAP, Global GAP, như vậy mới đảm bảo số lượng và chất lượng để sang EU. Tiếp theo, phải quan tâm đến vấn đề bảo quản sau thu hoạch, đảm bảo sau khi vận chuyển chất lượng hàng không bị giảm sút.

 

t19.jpg
Xoài da xanh của Hợp tác xã nông nghiệp an toàn Chiềng Hặc, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

 

Ngoài ra, khi sản xuất sạch theo các quy chuẩn như VietGAP, Global GAP, tỷ lệ rau quả không đạt yêu cầu về mẫu mã, hình thức để xuất tươi sẽ tăng lên. Do đó, việc chế biến sâu sẽ giúp tận dụng được các sản phẩm này vào làm nguyên liệu cho chế biến là điều cần quan tâm.

Theo ông Phúc Nguyên, để có thể tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và đưa nông sản Việt tới được với các thị trường đòi hỏi cao, người sản xuất bất kể ở quy mô lớn hay nhỏ đều phải tham gia vào chuỗi giá trị nông sản, trong đó chất lượng và an toàn thực phẩm phải là vấn đề tiên quyết.

Dù EVFTA có ưu đãi với những quy định SPS (các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm) linh hoạt, nhưng EU là thị trường rất khó tính với các quy định về hàng rào kỹ thuật, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, chất cấm… rất khắt khe. Nếu vi phạm, doanh nghiệp sẽ bị trả hàng, gây thiệt hại không chỉ riêng doanh nghiệp, mà cả ngành rau quả. Do đó, việc sản xuất an toàn theo hướng GAP là yêu cầu bắt buộc.

Các doanh nghiệp phải xây dựng được vùng nguyên liệu an toàn, đáp ứng đủ tiêu chuẩn. Doanh nghiệp cũng cần xây dựng hệ thống bảo quản, chế biến sau thu hoạch. Bên cạnh đó, doanh nghiệp chú trọng đến các yếu tố quan trọng khác như tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội, lao động, môi trường... Quan tâm hơn về vấn đề nghiên cứu thị trường, tìm hiểu từng nước, từng vùng họ đang cần mặt hàng nào. Vấn đề này, Nhà nước cũng cần hỗ trợ  doanh nghiệp, đặc biệt là các tham tán thương mại tại các nước EU.

Doanh nghiệp phải tự thay đổi

Thực thi EVFTA, Việt Nam giảm hầu hết các loại thuế cho hàng hóa của EU vào thị trường nội địa, trong đó có thực phẩm. Có thể nói, người tiêu dùng Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội sử dụng thực phẩm châu Âu với chất lượng vượt trội, an toàn. Với mặt hàng trái cây, doanh nghiệp tuy có gặp phải sức cạnh tranh nhưng không nhiều, bởi các loại nông sản Việt Nam và EU có tính bổ trợ. Nông sản Việt Nam đa phần là loại nông sản nhiệt đới, còn EU có thế mạnh về hàng ôn đới.

 

t20.jpg
Sơ chế, đóng gói trái thanh long để đưa đi tiêu thụ tại Tiền Giang.

 

Nhìn tổng thể, Việt Nam tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do, hàng hóa nước ngoài dễ dàng có mặt trên kệ tại các siêu thị trong nước với giá cả cạnh tranh, là thách thức không nhỏ với hàng hóa Việt Nam.

Tiến sĩ Phạm Đồng Quảng, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học (Bộ Nông nghiệp và PTNT), cho biết: EU là thị trường nhập khẩu rau, quả rất lớn, chiếm tỷ trọng tới 45 - 50% lượng rau, quả nhập khẩu của thế giới. Hiện, EU là thị trường xuất khẩu rau, quả lớn thứ 4 của Việt Nam. Tuy nhiên, rau, quả Việt Nam xuất sang EU cơ bản vẫn là sản phẩm tươi thô, sơ chế, sản phẩm đã qua chế biến sâu rất ít nên giá trị gia tăng chưa cao.

Để tận dụng tốt cơ hội xuất khẩu từ EVFTA, ông Lê Thanh Hòa, Phó Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và PTNT), cho rằng: Các nhà sản xuất, xuất khẩu rau, quả Việt Nam cần có các chương trình quản lý trồng trọt, sản xuất áp dụng tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt. Ngoài ra, khi xuất khẩu rau, quả vào EU, cần lưu ý xu hướng tiêu dùng của người EU rất chú trọng các sản phẩm có lợi cho sức khỏe, tiện lợi, dễ sử dụng và bảo quản, thông tin sản phẩm phải minh bạch hóa và có tính bền vững của chuỗi cung ứng hoặc có các chứng nhận về phát triển bền vững khác...

“Không còn cách nào khác, các nhà sản xuất, cung ứng nội địa phải tự thay đổi, đổi mới, nâng cao năng lực, nâng cao chất lượng sản phẩm để cạnh tranh. Tôi cho rằng, đây cũng là cơ hội để thay đổi cách nghĩ, cách làm”, ông Nguyên cho hay.

Ngoài ra, với việc tham gia vào EVFTA, các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp cũng sẽ có điều kiện tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu nhờ sự dịch chuyển đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia. Đặc biệt, có nhiều điều kiện thuận lợi để tham gia vào môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch hơn nhờ việc cải thiện quy định, chính sách phù hợp theo các điều khoản của EVFTA.

Dù vậy, theo ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, EU là thị trường bậc cao nên ưu đãi về mặt thuế quan không phải hoàn toàn là màu hồng.

“Muốn tận dụng tốt cơ hội, nông, thủy sản Việt Nam phải vượt qua các hàng rào kỹ thuật, tiêu chuẩn khắt khe… Từ năm 2016, ngành nông nghiệp đã tập trung vào các vấn đề tiêu chuẩn, chất lượng, mẫu mã bao bì… để ứng xử không chỉ với EVFTA mà còn nhiều FTA khác. Bởi không chuẩn hóa thì không thể hội nhập bền vững”, ông Toản nhấn mạnh.

Vượt thách thức tạo nền tảng vững chắc

Ông Filip Graovac, Phó Trưởng đại diện Quỹ châu Âu tại Việt Nam, đánh giá, dù khá nhạy bén trong kinh doanh, song người Việt Nam áp dụng chưa tốt truy xuất nguồn gốc hàng hóa. Tuy nhiên, ông cũng đã nhìn thấy những cơ hội lớn mở ra từ Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và EVFTA, trong khi Việt Nam đang nổi lên là điểm đến an toàn sau thành công của Chính phủ trong việc kiểm soát dịch Covid-19. “Việt Nam có tiềm năng xuất khẩu hàng nông sản, trái cây, có những sản phẩm tốt và nhà sản xuất có trách nhiệm. Vấn đề là làm sao để thể hiện được những yếu tố này với người mua ngoài biên giới”, ông Filip Graovac nói.

Truy xuất nguồn gốc đang thách thức tăng trưởng của toàn ngành rau, quả. Trên thực tế, để trang bị cho doanh nghiệp Việt Nam những nền tảng cơ bản theo yêu cầu của thị trường, Chính phủ Australia đã tài trợ Dự án “Hỗ trợ truy xuất hàng hóa và phát triển xuất khẩu”. Theo kế hoạch, dự án được triển khai trong 2 năm 2020 - 2021 với 5 loại hàng như cà phê, tiêu, xoài, hàng gốm sứ và hàng mây tre lá. Dự án cũng đề xuất triển khai đến 13 dòng hàng xuất khẩu nông sản chủ lực của Việt Nam và đầy đủ các sản phẩm khác thuộc Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) trên cả nước.

Cùng với sự hỗ trợ của Chính phủ, các dự án, đòi hỏi sự nỗ lực của chính doanh nghiệp, hợp tác xã trong việc tuân thủ minh bạch thông tin và nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm. “Cùng với các tiêu chuẩn như GlobalGAP, HACCP… thì nhiều điều khoản có thể được coi là mới lạ đối với doanh nghiệp Việt như: Phúc lợi cho người lao động, bảo vệ môi trường…, đòi hỏi doanh nghiệp cần phải chuẩn bị tâm thế sẵn sàng, xây dựng nền tảng tốt thì mới có thể xuất khẩu tốt sang thị trường này”, ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng giám đốc Tập đoàn Vina T&T, khuyến nghị.

Hiện, Bộ Công Thương đang nghiên cứu lập tổ công tác xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về xuất - nhập khẩu sang thị trường EU trong lĩnh vực nông nghiệp với các hướng dẫn cụ thể nhất. Đồng thời nghiên cứu xây dựng sàn thương mại điện tử Việt Nam - EU để đưa hàng hóa Việt Nam nhanh chóng tiếp cận thị trường EU. Sàn thương mại điện tử bao gồm cả khu vực công, dịch vụ hành chính công, cấp C/O điện tử, các thủ tục hải quan thông quan, vấn đề logistics, các hoạt động về chứng thực điện tử, hóa đơn điện tử...

Đặc biệt, thông qua những công cụ xúc tiến thương mại và kết nối giao thương hai bên trên nền tảng số thì doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có điều kiện thực thi hiệu quả hoạt động thương mại điện tử. Bên cạnh đó, cập nhật các chính sách mới nhất của EU nhằm giúp doanh nghiệp Việt Nam thực hiện đúng, đủ, kịp thời tất cả quy định của EU trong các hoạt động về thương mại nông sản.

 

 

 

Thanh Tâm

Ý kiến của bạn