Tin NN: Xuất khẩu gạo, chờ tín hiệu tích cực

KTNT Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 9/2019 đạt 586.000 tấn với giá trị đạt 251 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo chín tháng đạt 5,2 triệu tấn với 2,24 tỷ USD, tăng 5,9% về khối lượng nhưng giảm 9,8% về giá trị so với cùng kỳ.

 

gao.jpg
Ảnh minh họa.

 

Philippines đứng đầu về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam trong tám tháng với 36,1% thị phần, đạt 1,76 triệu tấn với 720,4 triệu USD, gấp 2,9 lần về khối lượng và gấp 2,6 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

Các thị trường có giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh là Australia tăng 75%, Bờ Biển Ngà 57%, Iraq gần 35%, Hong Kong (Trung Quốc) tăng gần 35%... Giá gạo xuất khẩu bình quân tám tháng năm 2019 đạt 435 USD/tấn, giảm 13,8% so với cùng kỳ năm 2018.

Trong tháng Chín, trên thị trường thế giới, giá gạo xuất khẩu Ấn Độ tăng nhờ đồng rupee hồi phục, đồng baht tăng trở lại giúp giá gạo Thái Lan ổn định ở mức cao trong gần một năm qua và đắt hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác ở châu Á, trong khi nhu cầu tiêu thụ ảm đạm giữ giá gạo Việt Nam ở mức thấp gần 12 năm.

Trong khi đó, nhu cầu vẫn hạn chế do thị trường toàn cầu đang bị ảnh hưởng bởi thương mại, suy thoái và đồng USD tăng giá làm hạn chế sức mua.

Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, vừa qua, Chính phủ Phillipines cho biết sẽ cân nhắc sử dụng đa dạng các biện pháp phi thuế, như yêu cầu nghiêm ngặt về vệ sinh và kiểm dịch thực vật, để điều chỉnh hoạt động nhập khẩu gạo.

Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp Phillipines cũng đang đề xuất áp thuế tự vệ đối với nhập khẩu gạo, dự kiến sẽ không thấp hơn 30%, do quy định trong Đạo luật Cộng hòa số 8800 của nước này có đề cập Philippines có thể áp thuế 30-80% đối với gạo nhập khẩu vượt quá 350.000 tấn.

Như vậy, gạo nhập khẩu vào Philippines ngoài việc phải chịu thuế quan 35%, trong trường hợp nước này đã nhập khẩu quá 350.000 tấn, mức thuế phải chịu thấp nhất sẽ là 65%. Điều này có thể trở thành một trong những nhân tố sẽ gây trở ngại cho hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam sang thị trường này trong thời gian tới.

Tuy nhiên, xuất khẩu gạo Việt Nam cũng có những tín hiệu tích cực từ thị trường khác. Điển hình Nhật Bản - quốc gia thường xuyên nhập khẩu 50% gạo từ Mỹ đang xem xét chuyển hướng sang nhập khẩu gạo từ các quốc gia ký kết Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); trong đó có Việt Nam.

Hay Singapore, quốc gia thường xuyên nhập khoảng 30-40% gạo từ Thái Lan, đang xem xét chiến lược đa dạng hóa nhập khẩu từ các nguồn khác. Do đó, trong thời gian tới, cơ hội tiếp cận thị trường gạo Singapore sẽ mở ra với các quốc gia trên, đặc biệt là Việt Nam và Campuchia, các quốc gia trong cùng khu vực Đông Nam Á, có lợi thế giao thương cùng với Singapore.

Xuất khẩu cá ngừ đại dương của Việt Nam tăng trưởng khá

Sản phẩm cá ngừ Việt Nam hiện đã có mặt ở hơn 200 thị trường trên thế giới; trong đó, nhà nhập khẩu cá ngừ lớn nhất của Việt Nam là Mỹ, châu Âu, Nhật Bản.

Theo Tổng cục thủy sản, ngành khai thác và chế biến, xuất khẩu cá ngừ thời gian qua được ưu tiên phát triển. Do đó, chỉ trong 5 năm thực hiện Đề án tổ chức khai thác, thu mua, chế biến, tiêu thụ cá ngừ theo chuỗi, sản lượng khai thác và xuất khẩu cá ngừ đã đạt con số tăng trưởng ngoạn mục.

 

ca-ngu-1452738031235-1501555165576.gif
Chế biến cá ngừ phục vụ xuất khẩu.

 

Ông Nguyễn Quang Hùng, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Thủy sản cho biết trên cả nước có 25 cảng phục vụ cho đội tàu khai thác, đánh bắt cá ngừ, 185 cơ sở thu mua cá ngừ và 60 doanh nghiệp, cơ sở chế biến cá ngừ phục vụ cho xuất khẩu.

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, hiện Mỹ và châu Âu là hai thị trường có nhu cầu tiêu thụ sản phẩm cá ngừ chế biến lớn nhất thế giới.

Cụ thể, các lô hàng cá ngừ chế biến nhập khẩu vào Mỹ tăng bình quân 6%/năm. Riêng thị trường châu Âu, mức tiêu thụ cá ngừ lớn đã thúc đẩy việc nhập khẩu cá ngừ tăng nhanh từ năm 2018 đến nay, khoảng 25%.

Đáng chú ý, cả Italy và Tây Ban Nha là hai quốc gia có ngành chế biến cá ngừ lớn nhưng các lô hàng cá ngừ đóng hộp và thăn/philê (loin) cá ngừ hấp đông lạnh đang tăng đều đặn kể từ năm 2016.

Tại hội nghị cá ngừ thế giới, tổ chức tại Tây Ban Nha vừa qua, các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu cá ngừ đến từ Ecuador, Trung Quốc, châu Âu cũng khẳng định các nhà chế biến cá ngừ của châu Âu nên tập trung vào việc gia tăng giá trị và mức độ phù hợp của các sản phẩm cá ngừ thông qua việc đổi mới sản xuất và tăng sản phẩm chế biến. Bởi các nhà chế biến châu Âu không thể chiến thắng trong cuộc cạnh tranh với các quốc gia khác như Ecuador, Trung Quốc, Việt Nam... về giá, với các sản phẩm cùng loại được nhập khẩu từ Ecuador và Trung Quốc và một số quốc gia khác.

Các nhà sản xuất cá ngừ châu Âu không thể tác động tới các yếu tố ngoài tầm kiểm soát của mình, như nhập khẩu cá ngừ giá rẻ từ các nước ngoài khối châu Âu.

Mặt khác, ông Peter Trutanich, Phó Chủ tịch điều hành phụ trách kinh doanh của Tri Marine (hiện thuộc sở hữu của Bolton Group International), cho biết tại thị trường Mỹ, sản phẩm có ngừ đóng hộp vẫn được ưa chuộng nhất, với doanh số bán hàng của mặt hàng này là 1,5 tỷ USD. Kế đó là sản phẩm cá ngừ đóng túi chiếm 10% doanh số bán hàng, tương ứng 400 triệu USD, thấp nhất là cá ngừ được bán dưới dạng gói thực phẩm chế biến, thời hạn bảo quản ngắn 100 triệu USD.

Qua khảo sát sở thích tiêu dùng tại đây, người tiêu dùng Mỹ vẫn thích sản phẩm cá ngừ đóng hộp hơn các loại sản phẩm cá ngừ chế biến khác.

Trong khi đó, các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu cá ngừ Việt Nam cũng xác định sản phẩm chế biến chủ yếu là cá ngừ đóng hộp. Điều này cho thấy sở thích tiêu dùng của thế giới đã tạo điều kiện cho ngành chế biến và xuất khẩu cá ngừ Việt Nam tăng sự cạnh tranh trên thị trường thế giới. Đồng thời, sản phẩm cá ngừ của Việt Nam cũng có ưu thế cạnh tranh về giá bán tại các thị trường này.

Tuy nhiên, thị trường thế giới sẽ còn có nhiều biến động, sản phẩm cá ngừ cũng không nằm ngoài sự biến động này. Do đó, ông Nguyễn Quang Hùng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản nhấn mạnh, để ngành hàng cá ngừ tiếp tục ổn định và phát triển bền vững, Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương tiếp tục quan tâm, bố trí nguồn vốn đầu tư xây dựng, nâng cấp đồng bộ hệ thống cảng cá ngừ chuyên dụng, chợ đấu giá cá ngừ và cơ sở hậu cần dịch vụ riêng cho cá ngừ.

Đồng thời, các viện nghiên cứu thủy sản, trường đại học tăng cường nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ khai thác, chế biến, bảo quản sản phẩm cá ngừ trên tàu cá để nâng cao chất lượng sản phẩm. Ngư dân khai thác, đánh bắt cá ngừ cũng cần được tập huấn để vận hành các loại máy móc, trang thiết bị hiện đại trong khai thác, bảo quản sản phẩm cá ngừ.

Không sản xuất sạch sẽ tự loại bỏ chính mình khỏi thị trường

Nông dân trồng thanh long Bình Thuận xác định rõ con đường xuất khẩu trái cây là phải thực hiện quy trình sản xuất sạch.

 

antd_vn-thanh-long.jpg
Đóng gói thanh long VietGAP.

 

Tỉnh Bình Thuận là địa phương có tổng sản lượng thanh long lên đến 600.000-700.000 tấn mỗi năm và tiêu thụ chủ yếu ở thị trường Trung Quốc. Khi quốc gia này tăng cường nhập khẩu chính ngạch, người nông dân trồng thanh long đã có những hướng thay đổi tư duy và phương thức sản xuất.

Hiện nay, những hộ dân sản xuất thanh long truyền thống ở Bình Thuận đang có xu hướng chuyển qua các mô hình VietGAP, GlobalGAP hoặc hữu cơ để tiến tới đáp ứng nhu cầu thị trường.

Theo Sở NN-PTNT Bình Thuận, toàn tỉnh hiện có 29,5 nghìn ha thanh long với năng suất vào khoảng 25 tấn/ha. Tỉnh này đang xây dựng kế hoạch nâng diện tích thanh long VietGAP, GlobalGAP để đảm bảo xuất khẩu chính ngạch qua Trung Quốc và tăng cơ hội thâm nhập thị trường khó tính như Nhật Bản, Úc, EU…/.

 

 

 

Thanh Tâm (tổng hợp)

Ý kiến của bạn