Tư duy “khôn vặt” và Kinh tế vùng

KTNT Trong hơn 20 năm hình thành và phát triển, các vùng kinh tế trọng điểm đã tạo nên thế mạnh theo cơ cấu kinh tế mở, gắn với nhu cầu thị trường.

tr8d.jpg

 Nhằm tạo động lực cho tăng trưởng cao và phát triển bền vững, trên cơ sở nghiên cứu nhiều phương diện (cả tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa,…), từ cuối năm 1997 đến năm 2009, Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển 4 vùng kinh tế trọng điểm (Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ và Vùng Đồng bằng sông Cửu Long).

Việc tổ chức vùng kinh tế trọng điểm nhằm tạo sự liên kết gắn bó trong khai thác tiềm năng lợi thế của khu vực sao cho hiệu quả nhất, tạo sự phát triển thống nhất theo chuỗi giá trị giữa các địa phương trong vùng kinh tế, trở thành đầu tàu kéo nền kinh tế khu vực và đất nước cùng phát triển.

Trong hơn 20 năm hình thành và phát triển, các vùng kinh tế trọng điểm đã tạo nên thế mạnh theo cơ cấu kinh tế mở, gắn với nhu cầu thị trường. Các vùng kinh tế trọng điểm không chỉ tạo ra động lực thúc đẩy sự chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế một cách tích cực mà còn góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển của các tỉnh lân cận trong vùng.

Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn nhận thì vẫn còn nhiều tồn tại cản trở sự liên kết thực chất giữa các địa phương trong từng vùng. Trong đó, lực cản lớn nhất là chưa có thể chế dẫn dắt, chỉ đạo, điều phối sự liên kết giữa các địa phương trong vùng kinh tế.

Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, tư duy “khôn vặt”, “đánh lẻ”, “chạy dự án” còn tồn tại. Tư duy này thể hiện ở các hình thức trải thảm đỏ trong mời gọi đầu tư không tính đến cái chung xuyên suốt của vùng mà chỉ tính cho địa phương mình vượt lên trước. Sự hợp tác mới chỉ dàn hàng ngang mà chưa đi vào chiều sâu, không theo chuỗi liên kết, chưa có sự đàm phán để xem ai làm cái gì là phù hợp nhất trong chuỗi, trong vùng.

Thêm nữa, đóng góp của khoa học kỹ thuật, công nghệ cao còn hạn chế. Việc gắn kết giữa các dự án FDI và doanh nghiệp trong nước vào chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế, chưa có sức lan tỏa. Nhân công giá rẻ và gia công, lắp ráp với giá trị gia tăng thấp còn chiếm ưu thế trong mời gọi đầu tư FDI. Mô hình tăng trưởng, quy hoạch phát triển vùng và địa phương chưa có sự thống nhất chung…

Về định hướng phát triển vùng kinh tế trọng điểm, tại Hội nghị phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ mới đây (ngày 25/6 vừa qua), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc lưu ý các địa phương cần xác định ngành nghề trụ cột ưu tiên, quy hoạch phân bổ không gian phù hợp hơn. Danh mục dự án hạ tầng liên kết vùng, cả nội vùng và kết cấu ngoại vùng cần làm rõ hơn. Cần có cơ chế thu hút đầu tư từ Trung ương, địa phương, đầu tư xã hội và đặc biệt là đầu tư tư nhân. Cần có thể chế liên kết vùng, cơ chế phối hợp vùng; liên kết trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ rõ nét hơn…

Đất nước cần phát triển mạnh hơn, bền vững hơn để cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030 và quốc gia công nghiệp phát triển hiện đại vào năm 2045. Thời gian không còn nhiều, hành trình phát triển ngày càng đặt ra nhiều vấn đề vượt ra ngoài ranh giới hành chính tỉnh, cần cách giải quyết theo vùng về nhiều vấn đề, như ứng phó biến đổi khí hậu, quản lý nguồn nước, xử lý dịch bệnh, nâng cao năng lực cạnh tranh, hội nhập...

Vì thế, chỉ có cùng nhau trên cơ sở vì sự phát triển của đất nước nói chung chúng ta mới có thể xây nên một Việt Nam thịnh vượng. Vấn đề là cùng nhau hành động, cùng nhau xóa bỏ tư duy “khôn vặt”. Bởi vậy, rất cần khung pháp lý về thể chế để dẫn dắt sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm.

 

Thanh Hiền

Ý kiến của bạn