Kinh tế nông thôn
Kinh tế nông thôn
Thứ bảy, ngày 20 tháng 4 năm 2024  
Thứ bảy, ngày 30 tháng 3 năm 2024 | 10:1

Nông sản Việt trên “đường đua” quốc tế

Có thể nói giá thành cao do các loại chi phí sản xuất, logistics, vốn vay đều ở mức cao đang là điểm yếu lớn của nông sản Việt trên “đường đua” quốc tế. Cần khắc chế những điểm yếu này, có như vậy, nông sản Việt mới dần khẳng định uy tín, sánh ngang tầm với sản phẩm của các quốc gia trên thế giới.

Sản xuất theo nhu cầu thị trường, chất lượng sản phẩm phải đáp ứng được các yêu cầu khắt khe nhất của thị trường nhập khẩu là yếu tố quan trọng giúp XK nông sản Việt ngày càng bền vững. (Ảnh: TN)

Giá cả quá cao khó thuyết phục người mua

Bài học mà nhiều doanh nghiệp (DN) xuất khẩu nông sản đang phải đối mặt là giá bán quá cao nên khó thuyết phục người mua. Để khắc chế mặt yếu của nông sản Việt trên “đường đua” quốc tế không chỉ cần giảm giá thành mà còn cần các DN phải giải quyết được những “bài toán” như tận dụng những lợi thế vốn có, hiểu thị trường một cách chủ động và bài bản hơn, chinh phục bằng sản phẩm mới chế biến sâu, bán hàng qua công nghệ mới nổi, xây dựng kho ngoại quan…

Bà Trương Thị Minh Hương, Trưởng Phòng kinh doanh của CTCP Good Link (chuyên xuất khẩu các sản phẩm từ trái dừa), cho biết mới đây khi tham dự một hội chợ quốc tế về rau quả thì có đối tác đặt yêu cầu báo giá xuất khẩu (XK) dừa trái từ Việt Nam đi sân bay Heathrow (London, Anh). Thế nhưng, khi kiểm tra giá cước vận chuyển cho chuyến hàng này cho thấy lên tới mức 3,8 USD cho một kylogam dừa. Chi phí như vậy là quá cao, làm cản trở quá trình XK.

Theo bà Hương, với chi phí vận chuyển cao cùng với nhiều chi phí khác dẫn đến tăng giá thành của trái dừa, khiến cho nhà thu mua quốc tế chọn lựa mua dừa ở quốc gia khác có chi phí cạnh tranh hơn.

Người phụ trách kinh doanh của Good Link bày tỏ mong muốn Nhà nước có một kế hoạch hỗ trợ chi phí logistics các DN xuất khẩu nông sản để gia tăng sức cạnh tranh. Còn thực tế như hiện tại, với giá cước vận tải biển đang tăng quá cao khiến cho nông sản Việt khó cạnh tranh so với các quốc gia khác như Thái Lan hay Ấn Độ.

Còn theo chia sẻ của ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch HĐQT CTCP thực phẩm Sao Ta (FMC), khi tham dự Hội chợ Quốc tế Thủy sản Boston (Mỹ) trong tháng 3/2024, có gặp không ít khách hàng thì đều nhận phản hồi khá tương đồng là tôm Việt nói chung có chất lượng rất tốt nhưng giá cả quá cao.

Như phản ánh của các khách hàng tại Mỹ, tôm Indonesia trước đây giá cũng cao, nay họ đã cho giá mềm cạnh tranh tôm Ấn Độ, chỉ còn giá tôm Việt là khó thuyết phục người tiêu dùng.

Quan sát từ hội chợ thủy sản ở Boston, như băn khoăn của ông Lực, giá cao hơn cả 1-2 USD/kg quả là rắc rối. Khi nhìn vào các catalog giới thiệu sản phẩm các DN nhà trưng bày tại hội chợ mới thấy sự đa dạng hóa sản phẩm rất rõ nét. DN chế biến tôm giờ làm thêm há cảo, xíu mại…; DN cá làm thêm nông sản, thêm bánh…Tất cả là hàng chế biến cao, giá cũng cao.

Ông Lực đặt ra dấu hỏi “làm sao giải quyết được vấn đề ?”. Theo đó, ngoài việc nắm bắt thị hiếu, xu thế người tiêu dùng, mẫu mã sản phẩm... cần thêm giải pháp căn cơ, bền vững là giảm giá thành tôm nuôi. Đây là câu chuyện rất cũ nhưng rất thời sự.

Có thể nói giá thành cao do các loại chi phí sản xuất, logistics, vốn vay đều ở mức cao đang là điểm yếu lớn của nông sản Việt trên “đường đua” quốc tế.

Đơn cử như vấn đề về chi phí tài chính ở lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, trong Sách Trắng 2024 của Hiệp hội DN châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) có bày tỏ quan ngại tiềm tàng với Việt Nam là các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác cùng với các Bộ Ngành liên quan cần tiếp tục nâng cao hiểu biết của DN về các lợi ích của vốn lưu động cho toàn bộ hệ sinh thái của DN, từ nhà cung cấp đến nhà phân phối, người mua và đến khách hàng cuối, điều này sẽ có lợi cho nền kinh tế.

“Quan trọng hơn, việc sử dụng nhiều phương án tài trợ vốn lưu động hơn như tài trợ chuỗi cung ứng hoặc tài trợ nhà phân phối so với các phương án cho vay thông thường sẽ giảm chi phí tài chính cho DN cũng như giảm thiểu rủi ro một cách hiệu quả hơn”, phía EuroCham gợi ý.

DN cần phát huy những lợi thế vốn có

Ngoài vấn đề về giá thành cần phải khắc chế, để nông sản Việt cạnh tranh tốt hơn trên thị trường toàn cầu đang đòi hỏi các DN cần phát huy những lợi thế vốn có.

Chế biến tôm xuất khẩu. (Ảnh minh họa)

Như chia sẻ của ông Nguyễn Thành Huy – nguyên tùy viên thương mại phụ trách Thương vụ Việt Nam ở Thái Lan, so với những đối thủ lớn, Việt Nam sở hữu vùng nguyên liệu nông sản đặc sắc và đa dạng. Đây là giá trị giúp cho sản phẩm nông sản của DN Việt có điểm nhấn, có dấu ấn riêng. Nếu DN biết khai thác có thể tăng giá trị cho sản phẩm nông sản khi XK.

Mặt khác, ông Huy cho biết xu hướng tiêu dùng thực phẩm xanh phù hợp với nhiều DN Việt. Có thể thấy, mỗi vùng nguyên liệu nông sản là một bài thuốc nam. Nếu DN trong nước tận dụng được “vũ khí” này để tạo sự khác biệt thì có thể tạo được xu hướng chung cho cộng đồng người tiêu dùng quốc tế.

Trong khi đó, với kinh nghiệm của nhà XK bánh sang một số thị trường cao cấp, ông Kao Siêu Lực, Tổng giám đốc CTCP Bánh kẹo Á Châu (ABC Bakery), nói rằng cần phải liên tục cải tiến để cho ra những sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu, tạo ra những trải nghiệm mới cho khách hàng quốc tế là rất quan trọng.

Ông Lực cho biết công ty luôn coi trọng tìm kiếm các nguyên liệu từ nông sản Việt Nam đưa vào trong các dòng bánh của mình. Và nhiều dòng sản phẩm mới được công ty làm xong xuôi sẽ ưu tiên đẩy đi nước ngoài trước, xuất đi Nhật Bản, Singapore…Những thị trường này yêu cầu chất lượng rất khắt khe nhưng phía công đã làm cho họ hài lòng.

Còn với góc nhìn của một nhà XK hàng đầu về các loại trái cây sấy sang những thị trường lớn, ông Nguyễn Lâm Viên, Chủ tịch HĐQT CTCP Vinamit, nhấn mạnh rằng để cạnh tranh bán hàng ở thị trường Trung Quốc hay thị trường 1,4 tỷ dân như Ấn Độ đòi hỏi các nhà XK nông sản Việt phải có hiểu biết nhiều hơn để đi vào thị trường một cách chủ động và bài bản hơn.

“Chúng ta giờ phải nghĩ đến chuyện ngồi ở Việt Nam livestream (phát trực tiếp) bán hàng nông sản cho người Trung Quốc, Ấn Độ. Để làm chuyện đó thì chúng ta phải làm quen, phải tập bán hàng ngay từ bây giờ”, ông Viên nói.

Hoặc như việc Trung Quốc đang xây những kho ngoại quan tại biên giới, để chuẩn bị làm livestream bán hàng vào thị trường Việt Nam. Theo ông Viên, các DN Việt đừng vì thế mà lo lắng, thay vào đó họ cần xây dựng những kho ngoại quan như thế để bán nông sản lại cho phía Trung Quốc và cũng đưa hàng vào kho ngoại quan.

Hay như việc các cảng của Trung Quốc cũng đang xây những kho ngoại quan để chuẩn bị cho phương thức kinh doanh mới, đi từ nhà máy đến ngay khách hàng. Cho nên các nhà XK nông sản Việt cũng nên học hỏi chuyện này.

Có thể thấy rằng, vẫn còn nhiều “bài toán” phải giải quyết để khắc chế mặt yếu của nông sản Việt nhằm cạnh tranh tốt hơn trên “đường đua” quốc tế. Đó là giảm giá thành, giảm các loại chi phí (vốn vay, sản xuất, logistics), tận dụng các lợi thế vốn có, chinh phục thị trường bằng sản phẩm mới chế biến sâu, bằng việc bán hàng qua những công nghệ mới nổi, đầu tư xây dựng những kho ngoại quan…

Để nông sản Việt sánh ngang tầm quốc tế

Tính đến nay, nông sản của Việt Nam đã có mặt tại hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Bên cạnh những thị trường truyền thống, nông sản Việt cũng chinh phục các thị trường khó tính như: Mỹ, Nhật Bản và các nước châu Âu. Điều đó đồng nghĩa với sự khẳng định cho chất lượng cũng như sự thay đổi trong tư duy canh tác của nông dân cũng như doanh nghiệp.

Vải thiều Bắc Giang đã được xuất khẩu tới trên 30 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Những năm gần đây, nông sản Gia Lai đã bắt đầu xâm nhập một số thị trường khó tính. Năm 2017, Hợp tác xã Nông nghiệp và dịch vụ Hùng Thơm (huyện Mang Yang) đã xuất khẩu quả chanh dây sang thị trường Pháp, Thụy Sĩ với sản lượng khoảng 1 tấn/ngày, giá bán 100.000 đồng/kg.

Đến tháng 9-2020, lô hàng 14 container với 296 tấn cà phê do Công ty TNHH Vĩnh Hiệp cũng đã được xuất sang Bỉ và Đức theo Hiệp định EVFTA. Còn năm 2023, Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Hoa Trang-Gia Lai đã cung ứng ra thị trường 60.000 tấn cà phê nhân xanh, trong đó, sản lượng xuất sang thị trường châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc chiếm 80%, đạt gần 100 triệu USD.

Mới đây, vào ngày 19/3, lô hàng cà phê hữu cơ (organic) gần 40 tấn mà Công ty TNHH Vĩnh Hiệp vừa xuất khẩu sang Nhật Bản cũng là lô hàng cà phê organic đầu tiên của Việt Nam được nhập khẩu vào đất nước mặt trời mọc. Đây là tín hiệu rất đáng mừng đối với ngành hàng cà phê của Gia Lai nói riêng, Việt Nam nói chung.

Trải qua bao thăng trầm, cây cà phê đang ngày càng khẳng định vị thế trong các loại cây công nghiệp dài ngày trên vùng đất đỏ bazan. Đó cũng là sự đền đáp xứng đáng cho những nỗ lực của Công ty TNHH Vĩnh Hiệp trên hành trình 10 năm tiên phong canh tác cà phê theo những quy trình nghiêm ngặt nhằm đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe của các thị trường khó tính.

Đây sẽ là nền tảng vững chắc để bà con liên kết cùng Công ty với mục đích nâng cao chất lượng và giá trị cho vườn cây của mình. Điều đó cũng cho thấy nông dân Gia Lai đang trên đường hội nhập, không chỉ mở rộng quy mô mà còn đổi mới cách thức canh tác, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng với các tiêu chuẩn của những thị trường khó tính nhất.

Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT, quý I năm 2024, tổng kim ngạch xuất khẩu (XK) nông lâm thủy sản ước đạt 13,53 tỷ USD, tăng 21,8% so với CKNT; xuất siêu 3,36 tỷ USD tăng 96,5%.

Theo đó, giá trị XK tới các thị trường đều tăng. Trong đó XK sang châu Á 6,27 tỷ USD (tăng 16,6%); châu Mỹ 2,96 tỷ USD (tăng 27,2%); châu Âu 1,85 tỷ USD (tăng 34,8%); châu Đại Dương 188 triệu USD (tăng 22,9%) và châu Phi 192 triệu USD (tăng 21,6%). Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản tiếp tục là 3 thị trường XK lớn nhất; giá trị XK sang Trung Quốc chiếm 20,2%, tăng 18,3%; Hoa Kỳ chiếm 19,9%, tăng 28,3% và Nhật Bản chiếm 7%, tăng 4,6%.

Dù vậy, lượng nông sản xuất khẩu vẫn chưa tương xứng so với tiềm năng, lợi thế của nông nghiệp nước ta. Bên cạnh những chuyến hàng thành công vào nội địa các nước để tiêu thụ thì vẫn có những lô hàng buộc phải hủy bỏ hoặc quay đầu trở về khi vừa cập cảng. Gần đây nhất, vào tháng 10-2023, 2 lô sầu riêng và ớt của Việt Nam khi xuất sang Nhật đã bị buộc tiêu hủy do tồn dư hóa chất vượt tiêu chuẩn cho phép.

Theo Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO), tổng số trường hợp bị từ chối rau củ xuất khẩu của Việt Nam sang 5 thị trường đã tăng từ 11 trường hợp năm 2012 lên 75 trường hợp vào năm 2020. Từ ngày 21/10 đến 21/11/2023, Trung Quốc và EU đã gửi 11 thông báo về SPS (hiệp định về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động vật, được thỏa thuận bởi các thành viên của WTO) cho Việt Nam với đa phần nhắc đến vấn đề về thực phẩm.

Riêng EU, chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2023 đã cảnh báo Việt Nam có 31 vi phạm về xuất khẩu nông sản, đa số bị vướng về lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nông sản vượt mức cho phép.

Thực tế cho thấy, khi nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao thì các nước cũng ngày càng siết chặt, nâng cao tiêu chuẩn đối với các mặt hàng, trong đó có nông sản. Vì thế, người làm nông nghiệp cần nhận thức rõ rằng phải sản xuất ra những thứ thị trường cần và phải bằng tiêu chuẩn cao nhất đối với loại nông sản đó.

Đồng thời, phải tiếp tục tái cơ cấu ngành nông nghiệp, đổi mới tư duy sản xuất theo hướng chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn… Có như vậy, nông sản Việt mới dần khẳng định uy tín, sánh ngang tầm với sản phẩm của các quốc gia trên thế giới./.

 

 

Thanh Tâm (t/h theo vnbusiness.vn, baogialai.com.vn...)
Ý kiến bạn đọc
Top