Nhiều điểm ô nhiễm trên lưu vực sông, hồ

KTNT Theo báo cáo của Tổng cục Môi trường, ô nhiễm cục bộ đang tiếp diễn trên các đoạn sông chảy qua khu vực tập trung dân cư, khu vực làng nghề, khu vực hoạt động sản xuất công nghiệp…

Các điểm ô nhiễm trên 3 lưu vực sông

Hiện nay, các điểm nóng về ô nhiễm môi trường nước tập trung trên các LVS ở khu vực phía Bắc (LVS Nhuệ - Đáy, LVS Cầu) và phía Nam (LVS Đồng Nai). Tình trạng ô nhiễm qua các đợt quan trắc trong năm và chưa có dấu hiệu được cải thiện, điển hình như ô nhiễm trên các sông Tô Lịch, Kim Ngưu, Sét,….(Hà Nội), sông Cầu chảy qua địa phận Bắc Ninh - Bắc Giang, sông Bắc Hưng Hải, kênh Tân Hóa - Lò Gốm, kênh Tàu Hũ - Bến Nghé, kênh Tham Lương - Bến Cát - Vàm Thuật... Ô nhiễm trên các LVS chủ yếu là ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng (các thông số ô nhiễm tập trung chủ yếu là DO, COD, BOD5, TSS; nhóm dinh dưỡng (N-NH4+, N-NO2-). Phần lớn các điểm quan trắc ghi nhận chưa có dấu hiệu ô nhiễm kim loại và hóa chất bảo vệ thực vật.

 

nuoc-song-hong-lam-sach-song-to-lich-o-nhiem-chay-vong.jpg
Ô nhiễm cục bộ vẫn đang tiếp diễn trên các đoạn sông chảy qua khu vực tập trung dân cư

 

Các điểm nóng về môi trường nước LVS Nhuệ - Đáy (đoạn sông Nhuệ và các sông nội thành Hà Nội) từ năm 2017 đến 2021, giá trị các thông số (COD, BOD5) và (NH4+, NO2-) vẫn vượt giới hạn cho phép của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt (QCVN 08-MT:2015/BTNMT loại B1). Nguyên nhân do tiếp nhận lượng lớn nước thải sinh hoạt của Tp. Hà Nội qua sông Tô Lịch và nước thải của các làng nghề Hà Nội (nước thải làng nghề lụa Vạn Phúc, nước thải làng nghề miến Cự Đà...).

Trên LVS Cầu, ô nhiễm vẫn chưa được khắc phục triệt để tại đoạn sông chảy qua làng nghề giấy Phong Khê (điểm cầu Đào Xá), sông Ngũ Huyện Khê đoạn giáp ranh giữa Bắc Ninh - Bắc Giang hay khu vực suối Loàng, cầu Bóng Tối đoạn qua Tp. Thái Nguyên....

Tại các điểm nóng ô nhiễm môi trường nước khác như sông Bắc Hưng Hải qua địa bàn Hưng Yên, Hải Dương ; sông Châu Giang chảy qua xã Yên Bắc (khu vực chợ Lương), Duy Tiên, Hà Nam hay khu vực hạ lưu sông Sài Gòn, khi vào nội ô Tp. Hồ Chí Minh là cầu Ông Buông (kênh Tân Hóa - Lò Gốm), cầu Chữ Y (kênh Tàu Hũ - Bến Nghé), cầu An Lộc (kênh Tham Lương - Bến Cát - Vàm Thuật) ... các hợp chất hữu cơ và dinh dưỡng, giá trị các thông số (DO, COD, BOD5, N-NH4+, N-NO2) đều vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt từ 2-4 lần.

Triển khai kế hoạch xử lý các điểm ô nhiễm

Trước tình trạng trên, Tổng cục Môi trường đã xây dựng kế hoạch để triển khai, xử lý dứt điểm tình trạng ô nhiễm môi trường tại các LVS trong năm 2022 và trong thời gian tới. Cụ thể, đối với LVS Cầu sẽ tiếp tục rà soát, đề xuất dự án triển khai khắc phục ô nhiễm sông Cầu tại mỗi địa phương (tập trung trước mắt vào kiểm soát các cơ sở xả thải lớn, thu gom, XLNT sinh hoạt và làng nghề).

Đẩy mạnh việc thực hiện các chỉ tiêu chưa hoàn thành, đặc biệt là tỷ lệ khu đô thị có hệ thống XLNT tập trung, trong đó cần hướng đến việc thu gom, xử lý triệt để lượng nước thải sinh hoạt phát sinh từ các khu đô thị, khu dân cư tập trung. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu các giải pháp, phương án để thu gom, XLNT sinh hoạt đối với khu vực dân cư phân tán.

UBND tỉnh Bắc Ninh cần tập trung giải quyết điểm nóng ô nhiễm trên sông Ngũ Huyện Khê như xây dựng, nâng cấp, cải tạo, đưa công trình thu gom, XLNT tập trung của làng nghề Phong Khê vào hoạt động; có biện pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và cho phép cơ chế đặc thù riêng đối với việc đầu tư xây dựng hệ thống XLNT tập trung của CCN Phú Lâm và CCN Phong Khê 2; buộc các cơ sở, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoạt động trong làng nghề Phong Khê và CCN Phú Lâm phải thực hiện đấu nối nước thải vào hệ thống XLNT tập trung, thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định; rà soát, xử lý ngay các điểm tập kết CTR không đúng quy định, đặc biệt các điểm dọc sông Ngũ Huyện Khê có nước rỉ rác chảy thẳng ra sông; tăng cường tổ chức thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật về BVMT, tài nguyên nước làng nghề Phong Khê, CCN Phú Lâm

Đối với LVS Nhuệ - sông Đáy, trên các dòng sông, đoạn sông đang bị ô nhiễm trên hệ thống sông Nhuệ, sông Châu Giang sẽ rà soát các nguồn xả nước thải ra hệ thống sông Nhuệ - sông Đáy; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát tại nguồn và xử lý nghiêm các KCN, CCN, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, làng nghề xả nước thải không đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường. - Đầu tư xây dựng và triển khai các dự án cải tạo phục hồi môi trường nước, khơi thông dòng chảy các đoạn sông đang ô nhiễm nặng (sông Tô lịch, sông Châu Giang, sông Nhuệ....

Đối với lưu vực hệ thống sông Đồng Nai: Đầu tư mạnh mẽ hơn nữa cho công tác kiểm soát ô nhiễm đối với các nguồn thải nhỏ và có tính chất phân tán, trọng tâm là kiểm soát nước thải sinh hoạt, nước mưa chảy tràn bề mặt, nước thải chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và các nguồn thải phân tán khác.

Tiếp tục kiểm soát chặt chẽ nước thải công nghiệp từ các KCN, các cơ sở sản xuất có lưu lượng thải lớn (phân loại và kiểm soát các nguồn thải có lưu lượng từ 100 m3/ngày.đêm trở lên); phát huy tối đa những thông tin, số liệu thu thập được từ hệ thống quan trắc tự động liên tục của các nguồn thải lớn (có lưu lượng từ 1.000 m3/ngày.đêm) nhằm kiểm soát chặt chẽ những nguồn này. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, nhất là đối với các doanh nghiệp có lưu lượng nước thải từ 200 m3/ngày.đêm trở lên và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong lĩnh vực BVMT…

Sản xuất xi măng từ bùn thải: Giải pháp xanh giúp ‘tái sinh’ sông, hồ

Nói về ý tưởng trên, ông Phạm Văn Nhận, thành viên Hội đồng Thành viên Tổng công ty Ximăng Việt Nam (VICEM) cho biết tiềm năng xử lý chất thải trong ngành ximăng rất lớn, bởi giải pháp này có thể xử lý triệt để các loại chất thải, đặc biệt là chất thải nguy hại với khối lượng lớn, do tận dụng được lò đốt ở nhiệt độ cao sẵn có trong dây chuyền sản xuất, không đòi hỏi cao về phân loại rác.

Đặc biệt, quá trình xử lý chất thải trong ngành ximăng cũng góp phần cho tỷ lệ thu hồi nhiệt cao, không phát thải thứ cấp và hệ thống giám sát khí thải liên tục 24/7; nhờ đó không cần các bãi chôn lấp, góp phần bảo vệ môi trường, cảnh quan.

Theo đại diện VICEM, từ cuối năm 2019, tổng công ty này đã thử nghiệm và thành công chương trình xử lý rác thải, bùn thải làm nhiên, nguyên liệu thay thế trong sản xuất clinker, ximăng đồng thời tăng sử dụng tro xỉ và thạch cao nhân tạo…

 

vnpnguon_nuoc.jpg
Một góc sông Tô Lịch

 

Sau một thời gian thử nghiệm, đến năm 2020, VICEM đã xử lý bùn thải tại 5 dây chuyền thuộc 4 đơn vị sản xuất, bao gồm: Nhà máy ximăng Hoàng Thạch, Bút Sơn, Hạ Long và Hà Tiên với tổng khối lượng bùn thải lên tới 15.000 tấn.

Tiếp đó, năm 2021, VICEM đã nâng khối lượng xử lý bùn thải lên 70.000 tấn, giúp thay thế 3-5% khối lượng nguyên liệu sét trong nguyên liệu sản xuất ximăng.

Trước những kết quả khả quan của công nghệ đưa chất thải vào làm nhiên, nguyên liệu sản xuất ximăng, từ cuối năm 2021, VICEM Bút Sơn đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cho phép thử nghiệm xử lý chất thải nguy hại. Sau gần 5 tháng vận hành thử nghiệm, đơn vị đã xử lý thành công hơn 4.172 tấn chất thải nguy hại.

Trong năm 2022, kế hoạch của VICEM là sẽ xử lý 86.000 tấn bùn thải.

Kết quả thử nghiệm trên đã phần nào cho thấy để thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh trong sản xuất ximăng thì một trong những giải pháp hữu hiệu, quan trọng nhất là thay thế nguồn nhiên liệu truyền thống bằng nhiên liệu từ rác/chất thải.

Thế nhưng, vướng mắc của VICEM và ngành sản xuất ximăng ở Việt Nam nói chung hiện nay là vẫn khó tiếp cận được nguồn bùn, chất thải công nghiệp thông thường, nhất là bùn thải ở sông Tô Lịch, hồ Tây, hồ Yên Sở do vướng từ cơ chế.

Theo giáo sư tiến sĩ Trần Hiếu Nhuệ, nguyên Viện trưởng Viện Kỹ thuật nước và Công nghệ môi trường, bùn thải ở sông Tô Lịch, hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm hoặc bùn thải ở các hồ, ao tại các làng nghề… chứa nhiều chất hữu cơ. Đặc trưng của chất hữu cơ là rất dễ cháy, sau cháy có carbon chính là một thành phần của ximăng.

Ông Nhuệ cũng lưu ý trên thực tế, không phải bùn thải ở sông, hồ nào cũng làm được nhiên, nguyên liệu làm ximăng, mà chỉ những nơi có nhiều chất hữu cơ. Quy trình xử lý bùn thải thành nhiên, nguyên liệu sản xuất ximăng thường sẽ phải hút từ đáy sông, hồ lên rồi vận chuyển đến nơi chứa, làm khô, sau đó mới đốt cháy được. Ưu điểm là quá trình đốt bùn thải cùng với các nguyên liệu khác trong lò nung đã có công nghệ xử lý khí nên hạn chế tối đa việc phát thải ra môi trường.

“Khi đưa chất thải, bùn thải vào sản xuất ximăng, điều đầu tiên các nhà máy xi măng lo lắng là liệu có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm hay không. Nếu chứng minh không ảnh hưởng thì có thể đưa vào làm nhiên, nguyên liệu được. Điều này vừa giúp tiết kiệm tài nguyên, lại làm giảm phát thải", ông Nhuệ chia sẻ.

 

 

Thanh Xuân (Tổng hợp)

Ý kiến của bạn