Kinh tế nông thôn
Kinh tế nông thôn
Thứ ba, ngày 21 tháng 5 năm 2024  
Thứ hai, ngày 8 tháng 4 năm 2024 | 12:21

Quảng Nam phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

Những năm qua, làng nghề, làng nghề truyền thống ở Quảng Nam có vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.

Đa dạng hoạt động sản xuất kinh doanh

Quảng Nam hiện có tổng cộng 10 nghề truyền thống, 30 làng nghề, làng nghề truyền thống được UBND tỉnh công nhận. Trong số các làng nghề được công nhận, có 11 làng nghề thuộc nhóm ngành chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản (chiếm 36,67%); 04 làng nghề thuộc nhóm ngành sản xuất (SX) hàng thủ công mỹ nghệ (13,33%); 15 làng nghề thuộc nhóm ngành SX đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, sợi, thêu ren, đan lát, cơ khí nhỏ (50%). Các nghề, làng nghề được công nhận phân bố không đều giữa các địa phương, phần lớn tập trung ở các huyện đồng bằng và 02 huyện miền núi. Có 07 địa phương chưa có làng nghề được công nhận.

Trên địa bàn Quảng Nam có nhiều hoạt động ngành nghề nông thôn được duy trì, tương đối phát triển như SX bánh tráng tại Đại Lộc; SX đèn lồng tại Hội An; SX mộc mỹ nghệ, gốm sứ tại Hội An, Điện Bàn, Duy Xuyên; SX phở sắn ở Quế Sơn; chế biến thủy sản ở Duy Xuyên, Thăng Bình, Núi Thành; chế biến một số sản phẩm từ cây dược liệu quý (quế Trà My, sâm Ngọc Linh, ba kích, đẳng sâm, giảo cổ lam…) ở Bắc Trà My, Nam Trà My, Tây Giang, Phước Sơn; chế biến một số sản phẩm từ cây đặc sản, thế mạnh như lòn bon (bòn bon), tiêu Tiên Phước, trà xanh Quyết Thắng, chè dây, ớt Ariêu ở Đông Giang; SX trầm hương ở Nông Sơn, Tiên Phước…

Du khách trải nghiệm tại làng nghề rau Trà Quế (thành phố Hội An).

Ông Nguyễn Thanh Quang, Phó Giám đốc Sở Công Thương Quảng Nam, cho biết, việc công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống đã góp phần khôi phục, bảo tồn và phát triển được nhiều nghề truyền thống và phát triển các nghề mới. Các làng nghề ngoài việc tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, còn giữ vai trò quan trọng trong bảo tồn gìn giữ không gian, cảnh quan làng nghề, nét đẹp văn hóa truyền thống và có tiềm năng lớn phát triển du lịch.

Trong tổng số 30 làng nghề, làng nghề truyền thống được UBND tỉnh Quảng Nam công nhận, có 16 làng nghề hoạt động duy trì ở mức độ ổn định, chủ yếu tập trung ở những làng nghề như mộc mỹ nghệ, chổi đót, làm hương, chế biến nước mắm, chế biến hải sản…; 14 làng nghề hoạt động SX cầm chừng, không duy trì thường xuyên, một số làng nghề khả năng mai một là rất lớn, chủ yếu tập trung ở những làng nghề như: mây tre đan, đan lát, nón lá, dệt chiếu, dệt vải, dệt thổ cẩm.

Trước đây, một số làng nghề duy trì ổn định và có sự phát triển nhờ gắn kết với phát triển du lịch như: Làng nghề mộc Kim Bồng, làng nghề gốm Thanh Hà (Hội An). Tuy nhiên, do tác động nặng nề, kéo dài của đại dịch Covid-19, hoạt động SX kinh doanh (KD) của nhiều cơ sở ngành nghề nông thôn tại những làng nghề này gặp rất nhiều khó khăn, SX duy trì ở mức độ cầm chừng.

Quảng Nam có 40 nghệ nhân và thợ giỏi được công nhận, chủ yếu tập trung ở ngành nghề SX hàng thủ công mỹ nghệ. Trong đó, có 11 nghệ nhân vinh dự được Chủ tịch nước công nhận (02 nghệ nhân nhân dân, 09 nghệ nhân ưu tú). Nghệ nhân và thợ giỏi được UBND tỉnh công nhận có 29 cá nhân (18 nghệ nhân, 11 thợ giỏi). Việc tôn vinh nghệ nhân, thợ giỏi không chỉ khích lệ, động viên tinh thần các cá nhân tâm huyết giữ nghề truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc mà còn là xây dựng nòng cốt, tạo động lực để các nghệ nhân, thợ giỏi tham gia thúc đẩy công tác đào tạo nghề, truyền nghề và bảo tồn, phát triển kỹ năng nghề, làng nghề.

Khó khăn, thách thức

Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Nam, tổng số lao động tham gia SXKD ngành nghề nông thôn tại các làng nghề, làng nghề truyền thống là 4.278 người. Phần lớn lao động tại các làng nghề đều ở tuổi trung niên, lớn tuổi, già yếu, mất sức lao động; tư duy SX tiểu nông, SX theo kiểu lấy công làm lời, tâm lý ngại thay đổi; chưa thích ứng, năng động, nhạy bén với cơ chế thị trường. Do thu nhập thấp, không đủ trang trải cuộc sống, nên đa phần lao động trẻ không gắn bó với nghề của làng, chuyển dịch sang các công việc khác dẫn đến việc cấy nghề, truyền nghề gặp nhiều khó khăn. Đây là một trong những thách thức rất lớn trong công tác bảo tồn, duy trì, phát triển làng nghề.

Qua khảo sát thực tế tại một số cơ sở ngành nghề nông thôn tại các làng nghề thấy, các cơ sở ngành nghề nông thôn chủ yếu sử dụng vốn tự có hoặc vay mượn của người thân, bạn bè để phục vụ SXKD.

Một số cơ sở có quy mô hơn có nhu cầu vay vốn, tuy nhiên, khả năng tiếp cận nguồn vay tín dụng đầu tư SX của các hộ, HTX, doanh nghiệp,... trong các làng nghề gặp nhiều khó khăn. Khả năng đáp ứng nguồn nguyên liệu đầu vào cho các làng nghề cơ bản ổn định nhưng một số nguồn nguyên liệu trong tỉnh hiện bị suy giảm do việc khai thác quá mức, thiếu tổ chức dẫn đến cạn kiệt các nguồn nguyên liệu tự nhiên. Các vùng nguyên liệu bị thu hẹp do phải cạnh tranh với các loại cây trồng khác, do áp lực về đất đai của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa dẫn đến thiếu nguyên liệu tại chỗ, SX phải phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu từ nơi khác (nguyên liệu lát phục vụ SX chiếu; nguyên liệu đất sét phục vụ SX gốm sứ; nguyên liệu đót phục vụ SX chổi…).

Làng nghề Kim Bồng (thành phố Hội An) tạo ấn tượng mạnh mẽ.

Trong hoạt động SXKD, các làng nghề, làng nghề truyền thống đều phát sinh các chất thải gây ô nhiễm môi trường như: Khí thải (khói, bụi, tiếng ồn); nước thải (nước chế biến, nước mắm, nước làm bún, nước phở sắn, nước nhuộm chiếu,...); chất thải rắn (đay, cói, phẩm màu, phôi bào, dăm bào, gỗ vụn, vải thừa, mây tre, đất sét nung, bột đồng, than tro,...). Các chất thải này chưa được các hộ xử lý mà thải trực tiếp ra không khí, ra đất hoặc xử lý bằng hình thức đơn giản như: hầm rút nước thải hoặc tận dụng làm thức ăn cho chăn nuôi, tự đốt, tập trung rác thải tại 01 khu vực trong làng nghề, giao Công ty Môi trường Đô thị thu gom.

Nhìn chung, các chất thải, khí thải trong hoạt động SX làng nghề không ảnh hưởng nhiều đến môi trường. Tuy nhiên, có một số làng nghề cần quan tâm đầu tư xử lý như: Làng nghề bún Phương Hòa (nước thải trực tiếp ra đất, hầm rút, có mùi hôi), Làng nghề gốm Thanh Hà (khói, bụi từ đốt than củi, nung gốm), Làng nghề đúc đồng Phước Kiều (khói, bụi từ việc đốt than củi nấu đồng; đất sét làm khuôn; bột đồng do nấu đồng...), Làng nghề phở sắn Đông Phú (nước thải do ngâm tinh bột sắn thải ra mương dẫn ra ruộng, thải ra vườn nhà),...

Tăng cường công tác khuyến công

Ông Nguyễn Thanh Quang cho biết, tổng nguồn kinh phí hỗ trợ hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh Quảng Nam hằng năm khoảng 6 tỷ đồng, trong đó hỗ trợ đầu tư phát triển TTCN trong làng nghề chiếm khoảng 48%, chủ yếu tập trung vào các nội dung: Chương trình đào tạo nghề, truyền nghề và phát triển nghề: Hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT), Chương trình hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật; chuyển giao công nghệ và ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, tiến bộ KHKT vào sản xuất CN-TTCN, Chương trình phát triển sản phẩm CNNT tiêu biểu…

Theo Quyết định số 3924/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND tỉnh ban hành về Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đến năm 2025, có xét đến năm 2035, Quảng Nam có quy hoạch 02 Cụm công nghiệp làng nghề là Cụm công nghiệp làng nghề Đông Khương, thị xã Điện Bàn (7,22ha) và Cụm công nghiệp làng nghề Tam Tiến, huyện Núi Thành (10ha). Riêng Cụm công nghiệp làng nghề Đông Khương mới đầu tư giai đoạn 1 nhưng chưa hoàn thiện, hiện cụm mới chỉ thu hút được 02 cơ sở ngành nghề nông thôn vào sản xuất kinh doanh (Công ty TNHH Mộc mỹ nghệ Nguyễn Văn Tiếp và Cơ sở đất nung Lê Đức Hạ).

Ngày 09/12/2022, HĐND tỉnh Quảng Nam ban hành Nghị quyết số 38/NQ-HĐND quy định cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2023-2025; trong đó 07 nội dung hỗ trợ, ngân sách tỉnh bố trí tối thiểu 12 tỷ đồng/năm. Năm 2024, UBND tỉnh đã phân bổ 5,066 tỷ đồng để các địa phương thực hiện cơ chế này.

 

 

Hải Yến
Ý kiến bạn đọc
  • Nhiều điểm mới trong kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 tại Hải Phòng

    Nhiều điểm mới trong kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 tại Hải Phòng

    Chiều 16/5, ông Bùi Văn Kiệm, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng đã thông tin một số điểm mới trong Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2024-2025 tại Hội nghị cung cấp thông tin và giao ban báo chí tuần 20 do Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng phối hợp Sở Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo thành phố tổ chức.

  • Quảng Nam hỗ trợ nghiên cứu và phát triển ngành Dược liệu

    Quảng Nam hỗ trợ nghiên cứu và phát triển ngành Dược liệu

    Lãnh đạo tỉnh Quảng Nam mong muốn các doanh nghiệp, các chuyên gia, nhà khoa học hàng đầu Việt Nam cho ý kiến sâu về các giải pháp để phát triển ngành Dược liệu và Mỹ phẩm một cách bền vững, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương…

  • Năm 2025, Hải Phòng hoàn thành sắp xếp 41 đơn vị hành chính

    Năm 2025, Hải Phòng hoàn thành sắp xếp 41 đơn vị hành chính

    Thành ủy Hải Phòng vừa triệu tập Hội nghị để cho ý kiến đối với các Đề án về sắp xếp, thành lập, điều chỉnh địa giới hành chính cấp huyện, cấp xã trên địa bàn thành phố giai đoạn 2023-2025 và chủ trương lựa chọn biểu tượng thành phố.

  • Sáng mãi trang sử vàng tháng Tư

    Sáng mãi trang sử vàng tháng Tư

    Theo vòng quay của thời gian, lại một tháng Tư nữa lại về! Tháng Tư về, nhiều khoảnh khắc thiên nhiên tươi đẹp đọng lại trong mỗi người khi mùa Xuân sắp qua đi, nhường chỗ cho mùa Hè tràn ngập ánh vàng lấp lánh của nắng, sắc trắng mong manh của hoa loa kèn có mặt ở mọi nẻo đường, nhiều góc phố Thủ đô yêu dấu.

  • Thanh niên với phát triển đất nước thời kỳ mới

    Thanh niên với phát triển đất nước thời kỳ mới

    Những người từ 15 đến 30 tuổi được gọi là thanh niên. Đây là lứa tuổi đang trưởng thành, đang vào đời, bắt đầu hành trình lập thân lập nghiệp.

  • Diện mạo mới từ chính sách phù hợp

    Diện mạo mới từ chính sách phù hợp

    Trong hơn 40 năm qua, kể từ khi thực hiện Khoán 100 (Chỉ thị số 100-CT/TW, ngày 13/1/1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp), rồi Khoán 10 (Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp.

Top