Kinh tế nông thôn
Kinh tế nông thôn
Thứ ba, ngày 21 tháng 5 năm 2024  
Thứ tư, ngày 6 tháng 3 năm 2024 | 10:29

Sức khỏe đất và sử dụng phân bón hợp lý (Bài 2): Để đất khỏe, đâu là giải pháp?

Tại Việt Nam, sức khỏe của đất đang đối mặt với nhiều vấn đề. Và thực tế đã chứng minh, đất khỏe cây trồng sẽ khỏe, cây trồng khỏe thì con người khỏe nên sức khỏe đất trồng ngày càng trở nên quan trọng. Vậy, để đất khỏe, đâu là giải pháp?

Bài 1. Thực trạng sử dụng phân bón

Sức khỏe đất chưa được chú ý

Quá trình gây nên sự suy thoái đất đã được đề cập trong phần I của bài viết này (bạn đọc có thể tìm đọc trên kinhtenongthon.vn). Tuy vậy, đến nay vẫn chưa có các phân tích cụ thể về tình trạng đất của Việt Nam và chưa có hệ thống giám sát để xem xét các hoạt động quản lý đang ảnh hưởng đến sức khỏe của đất như thế nào, hoặc tác động tích cực của một số biện pháp can thiệp nhằm nâng cao tính bền vững của nông nghiệp, thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu.

Ông Nguyễn Quang Hải, Phó Viện trưởng Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam), cho biết, dù Việt Nam có đánh giá về đất trồng lâu năm song vấn đề sức khỏe đất, vi sinh vật và dinh dưỡng trong đất vẫn chưa được đặt trọng tâm. 

Theo ông Hải, Bộ Nông nghiệp và PTNT đang xây dựng Chiến lược sức khỏe đất quốc gia và Kế hoạch quốc gia về quản lý sức khỏe đất. Trong quá trình xây dựng này, việc xác định các chỉ số phản ánh sức khoẻ đất phải tham khảo tài liệu nước ngoài và đặc biệt là Chỉ số dinh dưỡng đất (SOFIX). Ông Hải đánh giá, đây là chỉ số toàn diện để đánh giá sức khỏe đất.

Ông Lê Văn Đức, nguyên Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và PTNT) cho biết, đất không được “hô hấp” nhờ vi sinh vật là đất chết,  công nghệ SOFIX triển khai đánh giá các chỉ số trong đất dựa vào tuần hoàn hữu cơ, đặc biệt là vi sinh vật, từ đó giúp giảm phụ thuộc vào phân bón vô cơ là điều vô cùng quan trọng.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT  Lê Minh Hoan cho rằng, nền nông nghiệp vẫn vì nhiều lý do mà chưa chú ý đến điều căn bản nhất là dinh dưỡng trong đất. “Chúng ta tự hào vì cây gì cũng có thể trồng được, nhưng sau đó 3-4 năm cây dần thoái hóa, vì chất đất không phù hợp, khiến người nông dân chênh vênh, bơ vơ. Với trách nhiệm của những người đứng đầu, chúng tôi đau xót trước thực trạng này”, Bộ trưởng Lê Minh Hoan bày tỏ.

Bộ trưởng Lê Minh Hoan kêu gọi, đã đến lúc phải định vị lại ngành Nông nghiệp theo hướng minh bạch, trách nhiệm, bền vững, để sự tăng trưởng của nền nông nghiệp không phải là sự đánh đổi của môi trường, suy thoái đa dạng sinh học, sức khỏe của người nông dân và phần nào đó là sức khỏe của người tiêu dùng.

Theo các chuyên gia, cây trồng nông nghiệp muốn phát triển tốt, cho năng suất cao, chất lượng thì phụ thuộc vào mấy yếu tố chính, gồm: Giống, tính chất đất (thổ nhưỡng), điều kiện khí hậu, phân bón, sâu, bệnh hại thực vật và kỹ thuật canh tác của người trồng.

Trong đó, yếu tố thổ nhưỡng rất quan trọng mà yếu tố này lại phụ thuộc rất nhiều vào đá mẹ sinh ra nó (độ phì tiềm tàng), phụ thuộc vào lịch sử canh tác, thời gian và con người sử dụng đất đó (độ phì thực tế).

Tất cả những yếu tố trên sẽ kiến tạo nên độ phì của đất (độ màu mỡ). Chúng có thể làm giàu lên hoặc duy trì độ màu mỡ này hoặc cũng có thể làm cho đất trồng xấu đi, bạc màu, suy thoái và dẫn đến năng suất, chất lượng nông sản giảm sút.

Như vậy, muốn cây trồng cho năng suất, chất lượng cao, ít bị sâu bệnh, phụ thuộc rất nhiều vào độ phì (độ màu mỡ) của đất hay có một khái niệm dễ hiểu là sức khỏe đất. Tức là đất có khỏe thì cây trồng khỏe, con người khỏe.

Nhiều tác giả thuộc Hội Khoa học Đất cho rằng, các yếu tố chi phối độ phì nhiêu của đất gồm: Dung tích hấp thu (CEC) của đất; Độc tố trong các loại đất đặc thù; Yếu tố hạn chế thừa (đất phèn, đất mặn); Phức hệ hữu cơ, vô cơ, tính chất vật lý;  Tính chất Sinh học và tỷ lệ cân đối giữa 3 nhóm đa, trung, vi lượng.

Do vậy, muốn có năng suất cao và ổn định, bền vững phải quan tâm, chăm sóc sức khỏe đất, đặc biệt, phải chú ý đến việc xuất hiện các yếu tố dinh dưỡng hạn chế trong đất làm suy kiệt sức khỏe đất trồng.

Suy giảm do đâu?

Đất khỏe là khi vẫn giữ được hệ sinh thái đầy đủ, là nơi trú ngụ và sinh sống của rất nhiều loài động vật và vi sinh vật thực hiện chức năng phân hủy các tàn dư hữu cơ để trả lại dinh dưỡng cho sản xuất nông nghiệp, quyết định đến sức khỏe và chất lượng đất, bao gồm kiểm soát các quần thể sâu/bệnh hại trong đất. Chất lượng đất có tính quyết định đến hiệu quả đầu tư sản xuất của người dân (ví dụ: sử dụng phân bón, nước tưới), và năng suất/chất lượng cây trồng. Nói cách khác, nếu không bảo vệ đất, người sản xuất sẽ cầm chắc thua lỗ trong trung và dài hạn.

Ruộng rau ở Hà Nội đất đã bị tàn phá đến mức trơ cứng (ảnh nhóm nghiên cứu chụp vào 3/2023).

Theo TS. Nguyễn Đăng Nghĩa, Giám Đốc Trung tâm Nghiên cứu Đất – Phân bón và Môi trường phía Nam, thuộc Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam), sức khỏe thực tế của đất có thể là do thiếu hụt hoặc dư thừa một chất dinh dưỡng này hay chất dinh dưỡng khác, nhưng cũng có thể xuất hiện khi nồng độ một chất hóa học nào đó vượt ngưỡng cho phép trở thành độc tố kìm hãm sự phát triển của cây trồng, đó chính là yếu tố hạn chế. Ví dụ: Độ chua (pH); chất hữu cơ trong đất; hàm lượng N, P, K; dung tích hấp thụ; Độc tố trong đất như: Al, Fe, Na,…

Như vậy, yếu tố dinh dưỡng hạn chế độ phì nhiêu của đất sẽ biến động trong mối quan hệ với từng loại cây trồng và thay đổi liên tục theo thời gian. Khi xác định các yếu tố hạn chế dinh dưỡng đối với năng suất cây trồng, nhà hóa học Liebig (Đức) nhận định: “Năng suất cây trồng phụ thuộc vào nguyên tố phân bón có tỷ lệ thấp nhất so với yêu cầu của cây trồng”.

Theo định luật này, các yếu tố có tỷ lệ thấp nhất so với yêu cầu của cây trồng (yếu tố tối thiểu) cứ luân phiên nhau xuất hiện. Định luật của Liebig có thể mở rộng thành định luật về yếu tố hạn chế như sau: Đất thiếu hay thừa một nguyên tố dinh dưỡng dễ tiêu nào đó so với yêu cầu của cây cũng đều làm giảm hiệu quả của các nguyên tố khác và do đó làm giảm năng suất của cây.

Vậy, đâu là nguyên nhân xuất hiện yếu tố hạn chế làm sức khỏe đất suy giảm? TS. Nguyễn Đăng Nghĩa cho rằng, có thể tóm lược bởi các nguyên nhân chính như sau: Do hậu quả của quá trình thổ nhưỡng tự nhiên (đá Mẹ), địa hình, chế độ canh tác và tiểu khí hậu. Do xói mòn, rửa trôi, do chế độ bón phân, canh tác bất hợp lý dẫn đến thiếu hụt một yếu tố dinh dưỡng nào đó trong đất làm đất bị suy kiệt sức khỏe. Do ô nhiễm đất dẫn đến tích lũy độc tố mới xảy ra trong đất,…

Tóm lại, yếu tố hạn chế sức khỏe đất trồng bao gồm các tính chất lý, hóa, sinh học đất, các yếu tố môi trường và hệ thống canh tác, người sử dụng đất.

“Khi đất trồng xuất hiện yếu tố hạn chế sẽ làm đất yếu đi và làm sinh trưởng phát triển của cây trồng suy giảm dẫn đến giảm năng suất, chất lượng nông sản, người nông dân sẽ bị thất thu. Vì thế, bà con nông dân phải sử dụng giải pháp và kỹ thuật để làm giảm hay khắc phục yếu tố hạn chế làm suy kiệt sức khỏe, thoái hóa đất trồng nông nghiệp”, TS. Nguyễn Đăng Nghĩa nhấn mạnh.

Lợi nhuận cao nhờ đất khỏe

Hợp tác xã Nông nghiệp và Dịch vụ Nam Yang ở xã Nam Yang, huyện Đắk Đoa (Gia Lai) là một trong những đơn vị tiên phong sản xuất nông nghiệp hữu cơ theo các tiêu chuẩn của Mỹ, châu Âu. Hợp tác xã hiện có trên 30ha các loại cây trồng như hồ tiêu, cà phê, mắc ca, sầu riêng được chứng nhận hữu cơ.

Ông Nguyễn Tấn Công, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Nông nghiệp và Dịch vụ Nam Yang, cho biết: Cách đây 5 năm, đơn vị đã xây dựng thành công thương hiệu tiêu Lệ Chí và được Tổ chức quốc tế Control Union cấp chứng nhận sản xuất hữu cơ đáp ứng các tiêu chuẩn của Mỹ, châu Âu. Hiện các sản phẩm hồ tiêu, cà phê hữu cơ của các thành viên trong hợp tác xã đủ tiêu chuẩn để xuất sang các thị trường khó tính nhất.

Theo ông Công, sản xuất nông nghiệp từ hóa học đã gây ra nhiều hệ lụy về sức khỏe con người, môi trường đất bị thoái hóa. Từ đó, đặt ra một câu hỏi: Làm thế nào để môi trường đất được tốt hơn, để cây trồng phát triển theo tự nhiên. Sau khi tìm hiểu, học hỏi kiến thức từ nhiều nguồn thì câu trả lời là, chỉ còn cách sản xuất đạt chuẩn hữu cơ. Vì thế, Hợp tác xã đã tiên phong sản xuất nông nghiệp hữu cơ để nông dân trong tỉnh có nơi trao đổi kinh nghiệm, lan tỏa cách làm nông nghiệp hữu cơ.

Ông Công nhận định, sản xuất nông nghiệp hữu cơ mang lại nhiều lợi ích, vừa bảo vệ môi trường, sức khỏe, vừa đảm bảo đất đai ngày càng màu mỡ, bền vững theo thời gian. Tuy sản xuất nông nghiệp hữu cơ, năng suất không cao nhưng chất lượng luôn đảm bảo để xuất sang các thị trường có yêu cầu cao về chất lượng nông sản.

Là một trong những doanh nghiệp hàng đầu về sản xuất và tiêu thụ cà phê, Công ty TNHH Vĩnh Hiệp đã đầu tư xây dựng trang trại cà phê hữu cơ với diện tích 45 ha tại huyện Chư Sê. Trang trại đã được đánh giá và cấp chứng nhận Organic theo tiêu chuẩn của Mỹ và nhận chứng nhận hữu cơ theo chuẩn của Nhật Bản, EU và Hàn Quốc.

Ngoài vùng trồng, Công ty TNHH Vĩnh Hiệp còn xây dựng mạng lưới sản xuất, chế biến cà phê liên kết với hơn 10.000 nông hộ, tuân thủ các yêu cầu canh tác bền vững, bảo vệ môi trường, đạt các chứng nhận quốc tế về cà phê bền vững như UTZ, 4C. Hiện cà phê nhân hữu cơ được công ty  xuất khẩu với giá cao hơn 300% so với giá cà phê nhân không được chứng nhận. Trong số đó, thương hiệu cà phê L’amant Organic xuất khẩu với giá cao hơn 100% so với giá cà phê chế biến không được chứng nhận.

Gia Lai  còn có nhiều hợp tác xã sản xuất cây trồng theo hướng hữu cơ, cho hiệu quả kinh tế cao như như Hợp tác xã Nông nghiệp dịch vụ Linh Nham ở xã Đăk Djrăng, huyện Mang Yang với 27ha được chứng nhận sản xuất hữu cơ cho hạt tiêu đen và cà phê theo tiêu chuẩn của Mỹ, châu Âu; Hợp tác xã Nông nghiệp Tú An 1 (xã Tú An, thị xã An Khê) với 3ha cà gai leo được chứng nhận sản xuất hữu cơ theo Tiêu chuẩn Việt Nam...

Áp dụng công nghệ chẩn đoán dinh dưỡng đất

Theo GS. Motoki Kubo, chuyên gia về giải pháp sinh học cho cây trồng và cải tạo đất (Đại học Ritsumekan, Nhật Bản), SOFIX là công nghệ đánh giá đất dựa trên vi sinh đầu tiên trên thế giới. Trên thực tế, “làm đất” trong nông nghiệp là sự kết hợp một cách khoa học về tính chất hóa, lý và vi sinh để có thể chẩn đoán một cách phù hợp.

Đánh giá đúng sức khỏe của đất để có giải pháp canh tác phù hợp ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Ảnh: Nguyên Huân.

Tuy nhiên, kỹ thuật chẩn đoán đất thông thường chỉ quan tâm tới tính chất hóa, lý của đất mà chưa thực sự phân tích toàn diện tính chất vi sinh. Nền nông nghiệp hữu cơ vẫn chưa có phương pháp phân tích vi sinh đất toàn diện, việc canh tác vẫn dựa trên kinh nghiệm hay trực giác nên khó đạt được năng suất ổn định.

Từ đó, công nghệ SOFIX (Soil Fertile Index – Chỉ số dinh dưỡng đất) ra đời, giúp thực hiện chẩn đoán tính chất vi sinh trên cơ sở khoa học kết hợp với tính chất hóa, lý của đất với 19 chỉ tiêu. Công nghệ mang tính đột phá trong hoạt động “làm đất” để đề xuất phân bón nhằm nâng cao mức sản sinh đất cũng như nâng cao năng suất trong nông nghiệp hữu cơ.

GS. Kubo cho biết, tổng mẫu phân tích SOFIX được thực nghiệm tại Nhật Bản là khoảng 10.000 mẫu và đã cho ra kết quả khả quan. Canh tác hữu cơ SOFIX đạt năng suất tương đương hoặc cao hơn canh tác hóa học, giúp giảm chi phí sản xuất 20-30% bằng việc giảm lượng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học. Ngoài ra, chất lượng nông sản tăng lên như: lượng ion nitrat trong nông sản giảm, trong khi lượng lycopene tăng lên...

Để cải tạo đất hiệu quả thì việc đánh giá nguồn nguyên liệu hữu cơ rất quan trọng, công nghệ của SOFIX đã phát hiện ra điều này. Qua đó, SOFIX cũng đã phát triển một nguồn nguyên liệu hữu cơ, phân hữu cơ SOFIX có thể phát triển tại nhiều địa phương khác nhau.

SOFIX có xu hướng tái sử dụng nguồn nguyên liệu tại địa phương để phát triển nền nông nghiệp an toàn. Đây là mô hình phát triển SOFIX tại Nhật Bản và SOFIX mong muốn phát triển mô hình này tại Việt Nam. Giáo sư Kubo đề xuất, Việt Nam nên xây dựng trung tâm phân tích là việc rất cần thiết, để sau khi phát triển mô hình có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp tại chỗ để tạo ra sản phẩm, song song với việc đào tạo nhân lực thực hành nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam. Giống như quy trình phát triển tại Nhật Bản thì việc phát triển công nghệ thông tin đóng vai trò rất quan trọng.

Đại diện Vụ Khoa học Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và PTNT) cho biết, trong chiến lược tái cơ cấu nông nghiệp, lĩnh vực khoa học công nghệ được quan tâm hàng đầu. Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ký kết thỏa thuận hợp tác với Bộ Khoa học và Công nghệ, hai Bộ cũng cần có các đầu mối mạng lưới hỗ trợ quá trình thúc đẩy và đồng hành ứng dụng chuyển giao các công nghệ mới, đặc biệt là kết nối các tổ chức khoa học và các chuyên gia nước ngoài và các doanh nghiệp là hết sức cần thiết. Thời gian tới, hai bên sẽ cùng nhau thử nghiệm và đánh giá công nghệ SOFIX.

Trong tương lai, hợp tác giữa hai Chính phủ Nhật Bản - Việt Nam về vấn đề nông nghiệp hướng đến chuyển giao giấy phép công nghệ SOFIX cùng việc hỗ trợ kỹ thuật tối ưu trong vấn đề cải thiện đất trồng sẽ giúp nền nông nghiệp Việt Nam giảm chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng nông sản, từ đó tăng tính cạnh tranh quốc tế. 

Thực hiện ngay “Hữu cơ hóa” trong canh tác và hướng đến nông nghiệp sinh thái

Theo TS. Nguyễn Đăng Nghĩa, để giảm thiểu thoái hoá đất hay quá trình xuất hiện yếu tố hạn chế trong đất và phục hồi đất thoái hóa, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu và đưa ra những biện pháp như: sinh học, hóa học, canh tác,… Trong đó, biện pháp hóa học là rất quan trọng.

Bón phân cân đối, phù hợp là một trong những giải pháp để phục hồi độ phì của đất. Ảnh: Nguyên Huân.

Theo tính toán của Viện Nghiên cứu Chính sách Thực phẩm Quốc tế (IFPRI), 80% sản lượng cây trồng tăng trên thế giới nhờ vào việc tăng năng suất, trong đó phần lớn do đóng góp của phân bón. Rõ ràng, nền nông nghiệp thâm canh đã chuyển hẳn từ sản xuất “dựa vào đất” sang sản xuất “dựa vào phân bón”.

Phân hóa học cung cấp cho cây trồng những chất dinh dưỡng cần thiết mà đất không đủ khả năng đáp ứng, đồng thời góp phần vào việc duy trì độ phì nhiêu đất trong quá trình canh tác. Do vậy, một chế độ cung cấp dinh dưỡng hợp lý cho cây trồng trên đất bị thoái hóa sẽ vừa làm tăng năng suất, vừa duy trì và cải thiện tính chất đất.

Bón phân cân đối và hợp lý: Cân đối giữa các yếu tố của nhóm đa lượng NPK, nhóm trung lượng Ca, Mg, S, Si. Cân đối giữa các yếu tố của nhóm vi lượng Zn, Cu, Fe, B, Mn và Mo. Cân đối giữa nhóm đa lượng với nhóm trung lượng và nhóm vi lượng. Cân đối giữa phân vô cơ (phân hóa học) với phân hữu cơ. Cân đối giữa phân bón rễ và phân bón lá.

“Cần thực hiện theo 10 nguyên tắc bón phân của Cục trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và PTNT) và 4 Đúng khi sử dụng phân bón. Thực hiện ngay “Hữu cơ hóa” trong canh tác các loại cây trồng ngay từ bây giờ để góp phần khắc phục nguyên nhân làm yếu sức khỏe đất”, TS. Nguyễn Đăng Nghĩa nhấn mạnh.

Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh sự ưu Việt về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của hệ thống nông nghiệp sinh thái. Ví dụ áp dụng không làm đất trong sản xuất lúa ở Ấn Độ giúp tăng năng suất lúa lên 30-100%. Tại Pháp, khảo sát 354 nông trại thâm canh (hóa chất) và 170 nông trại sinh thái, cho thấy, với mỗi 100 Euro đầu tư, nông trại sinh thái đạt giá trị tăng thêm cao hơn (44 Euro) so với nông trại thâm canh (28 Euro). Tương tự, các nghiên cứu ở Mỹ và các nước châu Âu khác đều cho thấy hiệu quả kinh tế và sinh thái cải thiện rõ rệt của hệ thống nông nghiệp sinh thái.

Tại Việt Nam, nghiên cứu mới đây của Trung tâm Sinh thái Nông nghiệp (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) phối hợp với Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Hữu cơ  (FiBL) và Tổ chức Nông Lương Liên Hợp quốc (FAO) trong so sánh giữa nhóm người dân sản xuất rau hữu cơ theo tiêu chuẩn PGS (Participatory Guarantee System) và rau thường cho thấy sự vượt trội hơn hẳn về thu nhập và hiểu biết trong thực hành sinh thái của người dân hữu cơ PGS so với rau thường. Nếu người dân PGS thực hành nhiều hơn nữa các giải pháp sinh thái, ví dụ áp dụng làm đất tối thiểu hoặc không làm đất, sức khỏe đất sẽ tăng và năng suất rau sẽ tăng lên.

Chìa khóa phát triển nông nghiệp bền vững

Những năm gần đây, nông nghiệp hữu cơ nhận được sự quan tâm của người nông dân, Chính phủ các nước và người tiêu dùng trên toàn cầu. Trong Quyết định số 300/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững ở Việt Nam đến năm 2030, nông nghiệp hữu cơ cũng là một trong những mục tiêu quan trọng để phát triển nông nghiệp Việt Nam bền vững.

Cụ thể hóa cho mục tiêu này, đến năm 2030, lượng phân bón hữu cơ cần chiếm trên 30% lượng phân bón cung ứng trên thị trường và được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp nhiều hơn 2 lần so với năm 2020.

Kế hoạch hành động để phát triển nông nghiệp Việt Nam của Chính phủ cũng khẳng định vai trò quan trọng của phân bón hữu cơ trong việc xây dựng một nền nông nghiệp bền vững.

Phân bón hữu cơ có nguồn gốc từ thực vật hay động vật, cung cấp các chất hữu cơ và dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của cây trồng. Điều này giúp kích thích sự phát triển của vi sinh vật, tránh tình trạng mất cân bằng dinh dưỡng, hay thoái hóa, bạc màu của đất trồng. Từ đó giúp cải thiện sức khỏe đất, tăng năng suất và chất lượng nông sản.

Ngoài ra, khi được sản xuất đúng quy trình và bón đúng liều lượng, phân bón hữu cơ an toàn với sức khỏe con người, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững.

Quan trọng hơn, trong bối cảnh nhu cầu lựa chọn thực phẩm an toàn của người tiêu dùng toàn cầu ngày càng tăng, việc sử dụng phân bón hữu cơ kết hợp với các loại phân vô cơ chất lượng cao trong sản xuất nông nghiệp trở thành xu hướng tất yếu.

Đất đai là nơi dễ bị tổn thương bởi việc sử dụng thái quá hóa chất phân vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật. Canh tác hữu cơ là dùng các phương pháp nông nghiệp để loại trừ sâu bệnh và cỏ dại mà không dùng hoặc hạn chế mức tối thiểu thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học. Quản lý đất canh tác theo hướng hữu cơ giúp nâng cao sức khỏe cây trồng, tăng nguồn dinh dưỡng cho đất và bảo vệ môi trường để phát triển nông nghiệp bền vững.

Giải pháp phối hợp hài hòa giữa phân bón hữu cơ và phân bón vô cơ sẽ giúp tối ưu năng suất, chất lượng cây trồng và nâng cao sức khỏe đất. “Đất khỏe - cây trồng khỏe” là nguyên tắc cơ bản trong trồng trọt, cũng là điều kiện để đảm bảo sự cân bằng hệ sinh thái nông nghiệp. Phát triển nông nghiệp sinh thái bền vững theo hướng an toàn thực phẩm, gia tăng giá trị kinh tế là định hướng mà ngành Nông nghiệp và các địa phương đang ngày càng chú trọng.

 

Chí Thanh
Ý kiến bạn đọc
  • Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, mở cơ hội cho XK nông sản

    Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, mở cơ hội cho XK nông sản

    Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng có vai trò quan trọng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng nông nghiệp. Khoa học công nghệ được coi là xương sống giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, góp phần mở ra cơ hội cho xuất khẩu (XK) nông sản Việt Nam; đóng góp tích cực vào tăng trưởng nông nghiệp.

  • Thanh Hoá nâng cao giá trị sản phẩm từ tre, luồng

    Thanh Hoá nâng cao giá trị sản phẩm từ tre, luồng

    Thanh Hoá được mệnh danh là “thủ phủ” của tre, luồng, có tiềm năng lớn trong phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo cho người dân. Tuy nhiên, các sản phẩm tre luồng tiêu thụ chủ yếu ở dạng nguyên liệu thô, chưa phát triển việc liên kết chuỗi giá trị trong sản xuất, khiến tre luồng còn ở dạng tiềm năng.

  • Cần tăng cường năng lực nội sinh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững

    Cần tăng cường năng lực nội sinh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững

    Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm. Tăng trưởng GDP quý I/2024 đạt 5,66%, cao nhất trong giai đoạn 2020 - 2023; đây là nỗ lực lớn trong bối cảnh nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn.

Top