Logistics Việt: Yếu và chưa đồng bộ

KTNT Nông sản Việt đã xuất sang 185 nước và vùng lãnh thổ với giá trị 42,5 tỷ USD (năm 2018), song “thực tế là chúng ta đi chợ thế giới nhưng đi bằng sản phẩm thô, nặng và ngắn”.

Logistics là khâu đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế chung của cả nước, nhất là logictics ngành nông nghiệp, nhưng dịch vụ này hiện phát triển chưa tương xứng.

 

tr6.jpg
Phân loại chanh dây tại Trung tâm chế biến rau quả Doveco Gia Lai. Ảnh: Hoài Nam.

 

“Đi chợ thế giới” nhưng hàng nặng, đường ngắn

Thời gian qua, ngành logistics có mức tăng trưởng khá cao, 13 - 15%. Hiện có khoảng 3.000 doanh nghiệp vận tải và logistics, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường biển, đường thủy nội địa, đường hàng không... Sự phát triển của ngành vận tải và logistics đồng thời đã tạo điều kiện để Việt Nam nhanh chóng trở thành trung tâm sản xuất mới trong khu vực, có năng suất lao động cao và năng lực cạnh tranh tốt.

Tuy nhiên, những yếu tố như hệ thống kho bãi, sơ chế nông sản còn thiếu nên chủ yếu là hàng xuất thô; doanh nghiệp trong ngành logictics còn hạn chế về kinh nghiệm, đặc tính về nông sản để xuất khẩu…

Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Nguyễn Xuân Cường, Việt Nam đã chủ động hội nhập để phát triển kinh tế, nhưng chưa bền vững, có tham gia giá trị toàn cầu nhưng chưa sâu. Không gì khác, chính logistics là công cụ, biện pháp quan trọng để Việt Nam tham gia sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu, tăng giá trị đóng góp cho kinh tế thế giới. Một thực tế là, chúng ta đi chợ thế giới nhưng đi bằng sản phẩm thô, nặng (trung bình xuất khẩu 40-50 triệu tấn hàng/năm) và ngắn vì chủ yếu tập trung vào thị trường liền kề như Trung Quốc. Ngắn ở đây là do vận chuyển hàng nặng nên không đi dài được.

Nhiệm vụ của logistics là phải làm cho sản phẩm nông sản của Việt Nam đi dài hơn, đến nhiều thị trường ở xa về địa lý, đi sâu hơn về giá trị kinh tế. Mục tiêu của nông sản Việt Nam là sẽ đi sâu vào chuỗi giá trị và hợp lý hơn.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường lý giải, thực tế, sức sản xuất nông nghiệp của chúng ta rất tốt nên mới có câu chuyện cái gì cũng thừa. Tuy nhiên, giá trị gia tăng chưa cao nên người nông dân chưa giàu vì chưa biết tận dụng lợi thế. Chẳng hạn, vụ vải thiều ở Lục Ngạn (Bắc Giang) vừa qua đã đem lại khoản doanh thu 5.000 tỷ đồng, trong đó dịch vụ logistics chiếm đến 2.000 tỷ đồng. Logistics là một lợi thế. Nên hiểu, logistics không chỉ đơn thuần là ngành trung gian mà là “ngành đẻ ra giá trị thực sự”.

Kết nối hạ tầng còn nhiều bất cập

Theo ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và PTNT), hiện, chi phí logistics cho xuất khẩu nông sản trung bình chiếm khoảng 20-25%, khá cao so với các nước trong khu vực (khoảng 10-15%).

Hiện, logistics phục vụ sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản còn hạn chế như: kết nối hạ tầng, lưu kho, chuỗi cung ứng lạnh… Chuỗi cung ứng dịch vụ logistics hầu hết do các doanh nghiệp nhỏ thực hiện đơn lẻ từng khâu. Dịch vụ logistics mới chỉ phát triển ở những thành phố lớn. Kênh phân phối nông sản qua hệ thống chợ đầu mối và chợ dân sinh chưa đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng. Cơ sở hạ tầng và dịch vụ logistics phục vụ thương mại biên giới hạn chế, chưa tạo giá trị gia tăng cho mặt hàng nông sản Việt Nam.

Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Nguyễn Nhật chia sẻ, vấn đề đặt ra cho ngành giao thông rất nặng nề vì nói đến logistics là nói nhiều đến giao thông. Đến nay, giao thông chưa đáp ứng được việc vận chuyển hàng hoá của ngành nông nghiệp và điều này thực sự đáng quan tâm.

Nước ta đang có khoảng 50 tuyến vận tải hàng không trong nước và khoảng 130 tuyến vận tải hàng không quốc tế. Chúng ta đã có đội tàu bay chở hàng đông lạnh nhưng là của một số hãng hàng không nước ngoài, còn các hãng hàng không Việt Nam chưa có bất kỳ một đội tàu chở hàng đông lạnh nào, do đó, các doanh nghiệp vận tải hàng không cần chú ý đầu tư để vận chuyển nông sản đảm bảo và nhanh hơn.

Tại ĐBSCL, tập trung khoảng 64% nông sản, 75% số nông sản ở đây vận chuyển lên các cảng của TP. Hồ Chí Minh bằng đường thuỷ nội địa. Thế nhưng, ĐBSCL lại chưa có cảng lớn để xuất khẩu nông sản đi quốc tế và các khu vực khác trong nước, đó là một bất lợi.

Để giải quyết thực trạng trên, ông Trần Thanh Hải, Phó cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), cho rằng, cần tăng vốn đầu tư cho hạ tầng logistics nông sản như đầu tư vào chuỗi lạnh gồm kho lạnh, xe lạnh và container lạnh. Bên cạnh đó, phải cải thiện kết nối đường thủy, đường bộ cũng như tận dụng tốt đường sắt, phát triển đường hàng không, xây dựng trung tâm chiếu xạ, kiểm định tại các vùng nông nghiệp trọng điểm. Đặc biệt, phải thay đổi tư duy làm chợ đầu mối bằng trung tâm logistics nông sản, ứng dụng công nghệ, sàn giao dịch logistics nông sản…

 

Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam Ousmane Dione cho rằng,

có 6 ý tưởng quan trọng Việt Nam cần lưu ý thực hiện, đó là: Cải thiện chất lượng sản phẩm, nên hỗ trợ quy mô canh tác lớn hơn để giảm chi phí sản xuất, tăng sản lượng; kết nối bên cung ứng sản xuất, thị trường; tạo các điều kiện thông qua các FTA để đưa sản phẩm nông sản ra thị trường quốc tế; cần phải xem xét các kinh nghiệm để lồng ghép câu chuyện về hạ tầng cho xuất khẩu nông sản; đơn giản hoá các thủ tục thông quan, thông thoáng cho thủ tục thanh toán và chi trả; xem xét để thiết lập cơ chế phối kết hợp về mặt chính sách như hỗ trợ thương mại, đối thoại công tư để đem lại giá trị cao hơn cho sản phẩm nông nghiệp.

 

Cần sự liên kết

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh, chúng ta phải hiểu rằng, logistics không phải là nhiệm vụ của Bộ trưởng mà của tất cả mọi người, đây là chuỗi ngành kinh tế tổng hợp nên các ngành, kể cả nông dân, lái xe phải bắt tay vào cùng làm... Đây là sự quan tâm phối hợp, không một người nào có thể giải quyết được mà phải có 3 trục: Chính phủ, Hiệp hội ngành hàng và toàn dân.

Theo Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh, thời gian qua, Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp và PTNT đã có những hợp tác chặt chẽ để nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trước bối cảnh kinh tế toàn cầu có những chuyển biến phức tạp. Về lâu dài, phải tổ chức lại sản xuất nông nghiệp để khai thác tốt các Hiệp định thương mại tự do (FTA). Tuy nhiên, điều đầu tiên là sản phẩm nông nghiệp phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn khắt khe của các thị trường xuất khẩu.

Với thị trường trong nước, sẽ xây dựng hàng rào kỹ thuật, biện pháp phòng vệ để bảo đảm lợi ích cho doanh nghiệp, người nông dân và nền nông nghiệp.

Về quản lý Nhà nước, phải tạo quỹ đất để phát triển hạ tầng logictics. Tiếp tục cải cách hành chính, đặc biệt là thủ tục kiểm tra chuyên ngành phải giảm thiểu để hạn chế việc vận chuyển hàng nông sản chậm vì đặc thù của hàng nông sản là nhanh hỏng, thời gian tiêu thụ ngắn.

Ủy viên Bộ Chí trị, Phó thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ đồng tình với phương hướng, nhiệm vụ công tác trong thời gian tới và các kiến nghị của Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Giao thông  Vận tải về phát triển logistics. Phó thủ tướng đề nghị, các bộ, ngành cần xác định logistics trong thời gian tới sẽ là ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế, gắn dịch vụ logistics với phát triển sản xuất hàng hóa, xuất - nhập khẩu và thương mại trong nước, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển nhanh, bền vững.

Đặc biệt, cần chú trọng những nghiên cứu mang tính chiến lược tổng thể trong quan hệ với các nước ảnh hưởng trực tiếp tới nước ta và quan tâm thích đáng đến các vấn đề của khu vực, từ tiểu vùng sông Mekong, ASEAN đến thế giới; tiếp tục thực hiện và mở rộng các quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với các nước trong khu vực. Cấp thiết nghiên cứu, xây dựng một chiến lược tổng thể đi đôi với một quy hoạch tổng thể phát triển ngành logistics của Việt Nam giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040.

 

E-logistics Việt Nam có gì hấp dẫn?

Dự báo, đến hết năm 2020, kim ngạch xuất - nhập khẩu của Việt Nam ước đạt mức 300 tỷ USD, hàng container qua hệ thống cảng biển Việt Nam đạt 67,7 triệu TEU, do vậy, tiềm năng phát triển dịch vụ logistics Việt Nam là rất lớn. Trong tương lai không xa, dịch vụ cung cấp logistics sẽ trở thành ngành kinh tế quan trọng, có thể đóng góp tới 15% GDP của cả nước.

Đặc biệt, thời gian gần đây đã có sự bùng nổ về thương mại điện tử và e-logistics. Theo Cục Thương mại điện tử và kinh tế số (Bộ Công Thương), thương mại điện tử tăng trưởng 35%/năm; doanh số bán lẻ thương mại điện tử của Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020 ước tăng 20%/năm và tổng doanh số bán lẻ thương mại điện tử Việt Nam dự kiến đạt 10 tỷ USD vào năm 2020. Những thay đổi trong thương mại điện tử trên thế giới và tại Việt Nam đã thúc đẩy ngành logistics Việt Nam cải thiện phương thức cung cấp dịch vụ ngày càng chuyên nghiệp và hiệu quả hơn.

 


 

 

 

Vân Nhi

Ý kiến của bạn