Kinh tế nông thôn
Kinh tế nông thôn
Chủ nhật, ngày 5 tháng 2 năm 2023  
Thứ sáu, ngày 15 tháng 4 năm 2016 | 1:39

Mô hình sản xuất thích ứng với xâm nhập mặn: Luân canh tôm-lúa

Mô hình nuôi 1 vụ tôm nước lợ vào mùa khô, trồng 1 vụ lúa vào mùa mưa đã xuất hiện ở Đồng bằng sông Cửu Long từ lâu nhưng diện tích không ổn định do nhiều nông dân cố giữ nước lợ để nuôi tôm trong thời điểm nước ngọt bởi lợi nhuận trồng lúa thấp. Tuy nhiên, qua quá trình sản xuất, mô hình ngày càng thể hiện nhiều ưu điểm như: rủi ro dịch bệnh thấp, tạo ra sản phẩm sạch, hiệu quả kinh tế khá cao và ổn định, khả năng thích ứng cao với những vùng gần biển có điều kiện nước lợ, ngọt đan xen nhau.

Hiệu quả cao

Mô hình tôm - lúa do Trạm Khuyến nông - Khuyến ngư huyện Tân Phú Đông triển khai thực hiện.

Hàng chục năm trước, mô hình tôm-lúa đã manh nha hình thành khi nông dân thấy tôm sú tự nhiên phát triển tốt trong thời điểm nước lợ trên ruộng không trồng lúa được. Tuy nhiên, mô hình dần bị lãng quên do giống lúa chất lượng kém, dễ sâu bệnh, năng suất thấp và nhất là hiệu quả kinh tế không cao, trong khi nuôi tôm được coi là nghề “siêu lợi nhuận”. Qua nhiều năm giữ nước lợ nuôi tôm thâm canh liên tục, ao tôm bị lão hóa, mầm bệnh ngày càng nhiều, nghề nuôi tôm bộc lộ nhiều rủi ro nên một số nông dân nghĩ đến việc đưa cây lúa trở lại luân canh với nuôi tôm. Lúc này, hiệu quả mang lại thật bất ngờ vì môi trường ao nuôi tôm được cải thiện.

Ông Nguyễn Văn Trí có đầm nuôi luân canh tôm-lúa hơn 2ha ở xã Phú Tân (Tân Phú Đông - Tiền Giang) cho biết, đầu năm 2015, ông thả 200.000 con tôm sú giống với giá 20 đồng/con. Sau khi thu hoạch tôm, ông tiến hành cải tạo đầm nuôi, tiếp tục gieo sạ 250kg lúa giống với giá 13.000 đồng/kg. Kết thúc vụ sản xuất năm 2015, ông thu hoạch được 900kg tôm sú với giá bán bình quân khoảng 120.000 đồng/kg. Bên cạnh đó, ông còn thu hoạch được 8 tấn lúa và 900kg tôm, cua, cá tự nhiên. Trừ chi phí, ông còn lãi hơn 120 triệu đồng.

Theo Chi cục Thủy sản Tiền Giang, thông thường các hộ áp dụng luân canh tôm - lúa ở các xã Phú Tân, Phú Đông (huyện Tân Phú Đông) thả tôm giống với mật độ 10 con/m2, kích cỡ tôm giống thả nuôi trung bình là post 15. Đến nay, diện tích tôm­-lúa trên địa bàn huyện Tân Phú Đông khoảng 568ha, chủ yếu ở 2 xã Phú Đông 48,6ha với 38 hộ, Phú Tân 520ha với 362 hộ.

Trong mô hình luân canh tôm-lúa ở huyện Tân Phú Đông, thời gian thả tôm giống trong tháng 11-12 hay tháng 2-3 (âm lịch) do thời điểm này nước lợ, còn thời gian xuống giống lúa từ giữa tháng 6 đến cuối tháng 7 âm lịch. Thông thường nông dân thả tôm với mật độ 3-7 con/m2, năng suất tôm đạt 350-500kg/ha, cỡ tôm thu hoạch từ 20-40 con/kg với giá bán 140.000-250.000 đồng/kg.

Đối với lúa, giống lúa canh tác chủ yếu là các loại giống như OM 4900, OM 6162, Hai bông... với năng suất đạt 3,5-4 tấn/ha. Trừ chi phí, nông dân canh tác theo mô hình tôm-lúa có thể đạt lợi nhuận trên 60 triệu đồng/ha.

Mô hình canh tác thông minh

Thực tế sản xuất của nông dân trên địa bàn huyện Tân Phú Đông cho thấy, việc trồng lúa trên đất nuôi tôm không xảy ra sự “xung đột” nào về nhu cầu sử dụng nguồn nước lợ, ngọt trong quá trình sản xuất mà còn là mô hình sản xuất “thông minh”. Vào mùa khô, nước ngoài sông rạch mặn thì lấy vào nuôi tôm, đến khi mưa xuống, nước ngọt từ thượng nguồn đẩy nước lợ ra biển thì nông dân lại lấy nước ngọt vào trồng lúa.

Mô hình tôm - lúa rất thích hợp với tình hình biến đổi khí hậu hiện nay.

Hơn nữa, những chất thải hữu cơ dưới đáy ao sau vụ tôm sẽ làm cho ruộng lúa trở nên màu mỡ nên trong vụ lúa nông dân chỉ bón một lượng nhỏ phân là đáp ứng nhu cầu phát triển của cây lúa. Bên cạnh đó, để tránh ảnh hưởng đến tôm nuôi, người thực hiện mô hình phải áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp, ít sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (giảm 70-80%). Ngược lại, nuôi tôm sau vụ lúa thì nền đáy ao đã được khoáng hóa, hạn chế được tình trạng vùng nuôi tôm bị lão hóa do đất bị ngập mặn lâu dài; đồng thời cắt mầm bệnh trong ao nuôi, môi trường ao tôm ổn định hơn nên khi nuôi tôm cũng không cần phải sử dụng nhiều thuốc, hóa chất dẫn đến lợi nhuận cao hơn.

Một lợi ích nữa không kém phần quan trọng là, hệ thống canh tác tôm-lúa giúp hạn chế sử dụng hóa chất độc hại, sử dụng tài nguyên nước hợp lý theo từng thời điểm và mùa trong năm, thích ứng với điều kiện tự nhiên, thời tiết khí tượng thủy văn, tạo ra những sản phẩm sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, từ đó giúp nâng cao giá trị hàng hóa cho cả tôm và lúa. Mô hình luân canh tôm-lúa cũng giải quyết vấn đề ô nhiễm nguồn nước, lão hóa vùng nuôi tôm, giảm thiểu rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm, từ đó giúp nghề nuôi tôm phát triển bền vững.

Mặc dù luân canh tôm-lúa mang lại hiệu quả cao, bền vững nhưng sự phát triển của mô hình này ở địa phương còn gặp một số khó khăn. Cụ thể, hiện nay các vùng sản xuất tôm-lúa nằm xen lẫn trong các khu nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh, hệ thống thủy lợi phục vụ mô hình tôm-lúa chưa đồng bộ nên vấn đề quản lý nguồn nước, quản lý dịch bệnh chưa chặt chẽ. Người nuôi chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống, chưa ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào canh tác. Còn thiếu sự liên kết, hợp tác trong cộng đồng người dân ở từng khu vực và giữa các bên có liên quan để phát triển mô hình tôm-lúa.

Tôm giống sử dụng trong mô hình chưa đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng lẫn chất lượng, trong khi đó sự quan tâm của người dân đến chất lượng tôm giống chưa cao. Sản xuất lúa phụ thuộc nhiều vào thời tiết và nguồn nước ngọt, chưa có các giống lúa đặc thù cho từng vùng sinh thái nên năng suất, chất lượng lúa còn thấp. Người dân còn thiếu vốn sản xuất trong khi giá các sản phẩm vật tư nông nghiệp không ổn định và chi phí đầu tư khá cao so với khả năng đầu tư của nông hộ.

Để mô hình luân canh tôm-lúa tiếp tục phát triển trong thời gian tới, theo một số chuyên gia ngành nông nghiệp, cần quy hoạch hợp lý các vùng luân canh tôm-lúa để có các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng phù hợp và chính sách tín dụng hỗ trợ cho sản xuất, khuyến khích sản xuất theo hướng hợp tác. Cơ quan khuyến nông cần tăng cường tập huấn kỹ thuật cả về lúa và tôm, nhất là về quản lý môi trường nước và phòng trị bệnh trên tôm nuôi. Tổ chức các điểm trình diễn mô hình tôm-lúa để nông dân tham quan học hỏi kinh nghiệm.

Đồng thời, Nhà nước cần có kế hoạch nạo vét hệ thống kênh, rạch đảm bảo nguồn nước luôn lưu thông tốt, đủ nước để phục vụ cho sản xuất. Các ban ngành, trường, viện có liên quan cần quan tâm nghiên cứu tìm ra các giống lúa có chất lượng tốt, năng suất cao, kháng được sâu bệnh, có khả năng thích nghi trong vùng nhiễm phèn, mặn. Ngoài ra, cần có chính sách hỗ trợ vốn vay với lãi suất ưu đãi, thời gian vay trung hạn hoặc dài hạn để người nuôi có nguồn vốn tiếp tục tái sản xuất; hỗ trợ con giống cho vùng nuôi luân canh tôm-lúa để góp phần thúc đẩy mô hình nuôi phát triển ngày càng bền vững.

Thành Công

Theo GS.TS Võ Tòng Xuân, quyền Hiệu trưởng Trường Đại học Nam Cần Thơ: Việc coi nước mặn là kẻ thù cần phải ngăn chặn trong những năm trước đây không còn hợp thời nữa mà nên coi nước mặn là bạn, giúp nông dân ven biển làm giàu với các đối tượng nuôi trồng nước mặn như tôm, cua… một cách bền vững, hài hòa thiên nhiên. Chẳng hạn, những vùng theo hệ thống lúa-tôm của Sóc Trăng hiện nay được giàu có nhờ trồng lúa rất thành công trong mùa mưa và sau khi dứt mưa thì cũng vừa gặt lúa xong, liền cho nước mặn vào nuôi tôm. Đến mùa mưa tới, nông dân trở lại trồng lúa.

Theo Tổng cục Thủy sản, trong thời gian qua, hình thức nuôi tôm sú kết hợp với lúa phát triển tương đối ổn định và thể hiện tính bền vững. Nuôi tôm-lúa vùng ĐBSCL có sự tăng trưởng rất nhanh về diện tích nuôi, hình thức nuôi, chủ yếu là luân canh 1 vụ nuôi tôm - 1 vụ lúa. Nếu như năm 2000, diện tích nuôi tôm-lúa toàn vùng chỉ mới đạt 71.000ha thì đến năm 2014 đạt 152.977ha; hiện nay ước đạt 160.000ha, năng suất  từ 300-500 kg/ha, sản lượng tôm trên 60.000 tấn/năm.

Các tỉnh nuôi tôm-lúa với diện tích lớn là Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu và Sóc Trăng. Chi phí sản xuất trung bình 30-35 triệu đồng/ha, lãi 35-50 triệu đồng/ha/năm. Diện tích tiềm  năng phát triển mô hình tôm-lúa ở vùng ĐBSCL lên đến 250.000ha.

Thành Công

 

KTNT
Ý kiến bạn đọc
Vinamilk
Tan A Dai Thanh
hanvet.com.vn
Top