“Nếu không có CNSH thì chắc chắn chúng ta không có giá thực phẩm tốt như hiện nay”

KTNT Đó là nhấn mạnh của Giáo sư Lê Huy Hàm, Chủ tịch Hội đồng Khoa học – Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam, tại Hội thảo với chủ đề: “Đóng góp của cây trồng công nghệ sinh học trong Nông nghiệp tại Việt Nam”.

170053579_3899077123478836_6456156689955881267_n.jpg
Giáo sư Lê Huy Hàm trao đổi thông tin bên lề Hội thảo “Đóng góp của cây trồng công nghệ sinh học trong nông nghiệp tại Việt Nam” cùng báo chí. (Ảnh: Thanh Tâm)

 

Hội thảo do Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng (VSTA) cùng T.Ư Hội Nông dân Việt Nam (HND) và Tổ chức Quốc tế về Ứng dụng và Tiếp Thu Công nghệ sinh học trong nông nghiệp (ISAAA) đồng tổ chức chiều nay (7/4) tại Hà Nội.

Đóng góp của sản phẩm CNSH

Giáo sư Lê Huy Hàm dẫn chứng: “Thực tế năm 2020 chúng ta nhập khẩu 12 triệu tấn ngô, phần lớn là ngô biến đổi gen, trong khi sản xuất trong nước chỉ sản xuất được 5 triệu tấn. Tất cả thức ăn cho chăn nuôi trong nước đều trông cậy vào ngô và đậu tương đều là sản phẩm biến đổi gen, nếu mua sản phẩm không biến đổi gen giá sẽ tăng khoảng 100-200 Euro/tấn thì không một nhà nhập khẩu nào chọn mua sản phẩm không biến đổi gen cả, mà họ sẽ tìm sản phẩm giá tốt hơn để mua. Nếu bây giờ thiếu lượng nhập khẩu các nguyên liệu này thì giá thức ăn sẽ tăng ‘lên trên trời’ từ đó kéo theo giá thực phẩm tăng mạnh. Bởi vậy nguồn nguyên liệu từ sản phẩm biến đổi gen đóng góp vô cùng lớn trong cung cấp thức ăn chăn nuôi cho gà, lợn, trâu, bò, tôm, cá… Nếu không có nguồn thực phẩm này, thì giá cả thị trường chắc chắn sẽ không có giá tốt như hiện nay và sẽ ảnh hưởng rất lớn đến an ninh lương thực”.

Vào năm 2019 – 2020, Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam phối hợp với Viện PG Economics (Anh Quốc) đã tiến hành một nghiên cứu đánh giá và phân tích tác động của cây ngô công nghệ sinh học (CNSH) với các tính trạng chuyển gen kháng sâu và chống chịu thuốc trừ cỏ sau 5 năm canh tác. Nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn nông dân trồng ngô (cả các giống ngô lai thường và ngô CNSH) tại các vùng sản xuất ngô trọng điểm của cả nước. Đây cũng là nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ nông hộ tại Việt Nam về cây trồng CNSH.

Cụ thể, theo kết quả nghiên cứu, tổng diện tích ngô CNSH canh tác tại Việt Nam cho cả giai đoạn 2015 – 2019 là 225.000 ha. Riêng năm 2019, diện tích canh tác ngô CNSH là 92.000 héc-ta, chiếm 10% tổng diện tích ngô cả nước. Năng suất thu hoạch được của các giống ngô CNSH với các tính trạng kháng sâu và chống chịu thuốc trừ cỏ cao hơn so với các giống ngô lai thường từ 15,2% tới 30%. Lợi nhuận canh tác có được từ việc trồng các giống ngô CNSH cũng gia tăng với mức từ 196 USD/héc-ta cho tới 330 USD/ ha (tương đương với khoảng 4,5 cho tới 7,6 triệu đồng/héc-ta). Tổng thu nhập tích luỹ tăng thêm khi ứng dụng ngô CNSH là từ 43.8 cho tới 74.1 triệu đô la Mỹ (tương đương với 1.007 tới 1.704 tỷ đồng.

Về tỷ suất đầu tư, trung bình với mỗi 1 USD (khoảng 23.000 đồng) đầu tư thêm cho hạt giống CNSH, nông dân sẽ có lợi nhuận gia tăng từ 6,84 USD và 12,55 USD (tương đương khoảng 157.000 tới 289.999 đồng) - đây là tỷ suất đầu tư cao đáng kể so với các nước khác đang ứng dụng công nghệ tương tự. Lượng thuốc BVTV sử dụng khi canh tác ngô CNSH giảm đáng kể: với thuốc từ cỏ là 26% và thuốc trừ sâu là 78%; các tác động môi trường tính toán được từ việc giảm các loại thuốc này tương ứng là 36% và 77% (theo chỉ sổ EIQ)

Theo kết quả nghiên cứu trên Việt Nam đưa các giống CNSH vào sản xuất trong giai đoạn cây ngô gặp rất nhiều khó khăn và điều này cũng giải thích phần nào khi tỷ lệ ứng dụng các giống ngô này có tăng nhưng chưa đạt như kỳ vọng. Mặc dù, nhu cầu sử dụng ngô cho ngành chăn nuôi tăng nhanh mỗi năm nhưng diện tích trồng ngô trong nước 5 năm trở lại đây có xu hướng giảm. Ngô trong nước đang phải chịu áp lực rất lớn từ ngô hạt nhập khẩu cả về giá và về chất lượng, nông dân nhiều vùng đã chuyển sang các cây trồng khác khi lợi nhuận thu được từ canh tác ngô không cao, đặc biệt khi giá thu mua trong nước giảm mạnh.

“Nghiên cứu lần này được tiến hành nhằm có được cái nhìn khách quan hơn về năng suất, lợi ích kinh tế, các tác động xã hội và môi trường của ngô NCHS tại Việt Nam sau 5 năm canh tác. Tỷ lệ ứng dụng ngô CNSH đang gia tăng, đặc biệt trong bối cảnh xuất hiện các dịch hại mới gần đây đã cho thấy mức độ chống chịu và thích ứng rất hiệu quả của các giống mới này với điều kiện canh tác ngô trong nước. Cùng lúc đó, các kết quả nghiên cứu khả quan công bố hôm nay một lần nữa củng cố thêm các dữ liệu thực tế để chứng minh việc đưa các giống ngô CNSH tiên tiến vào sản xuất là một quyết định đúng đắn. Đây vẫn được xem là công cụ quan trọng giúp nông dân gia tăng thu nhập, góp phần đảm bảo nguồn cung thức ăn chăn nuôi một cách chủ động hơn đồng thời cải thiện vai trò cây ngô trong sản xuất nông nghiệp Việt Nam”, ông Trần Xuân Định Phó Chủ tịch, Tổng thư ký Hiệp hội Thương mai Giống Cây trồng Việt Namchia sẻ thêm.

Kỳ tích vượt bậc của CNSH

Phát biểu tại Hội thảo, ông Trần Xuân Định, Phó Chủ tịch, Tổng thư ký Hiệp hội Thương mai Giống Cây trồng Việt Nam cho biết: “Trong những thập niên đầu của thế kỷ 21, với lĩnh vực nông nghiệp, chúng ta chứng kiến sự bứt phá của khoa học, đặc biệt là công nghệ sinh học với những phát minh của công nghệ di truyền, công nghệ gen, công nghệ vi sinh… Nhiều giống cây trồng được tạo ra bằng công nghệ sinh học đã có mặt ở Việt Nam, giúp nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao thu nhập nhờ việc tăng năng suất và giảm thiểu chi phí thuốc bảo vệ thực vật. Hội thảo được tổ chức ngày hôm nay với mục đích cập nhật vào trao đổi những thông tin về việc ứng dụng công nghệ sinh học vào lĩnh vực nông nghiệp trên toàn cầu cũng như đánh giá và xem xét các tác động của việc ứng dụng cây trồng công nghệ sinh học thời gian qua ở Việt Nam.”

169386292_512772963057023_4544815851587383195_n.jpg
Ông Trần Xuân Định phát biểu tại Hội thảo. (Ảnh: Thanh Tâm)

 

CNSH ứng dụng trong nông nghiệp được xem là một trong các thành tựu khoa học nổi bật của thế kỷ trước, cho tới nay vẫn đang được minh chứng tính ưu việt bởi số liệu ứng dụng ngày một tăng trên toàn cầu cũng như những tác động kinh tế, xã hội và môi trường tích cực mà công nghệ mang lại cho nông dân, người tiêu dùng và cộng đồng.

Theo báo cáo  của tổ chức ISAAA, với việc có thêm 3 quốc gia châu Phi, số lượng các quốc gia canh tác cây trồng CNSH đã tăng lên 29 vào năm 2019. Trong đó, 5 quốc gia dẫn đầu với diện tích cây trồng CNSH lớn nhất là Hoa Kỳ, Brazil, Argentina, Canada và Ấn Độ. Ước tính, khoảng 1,95 tỷ người, tương đương với 26% dân số thế giới, được hưởng lợi từ CNSH vào năm 2019.

Tiến sỹ Rhodora R. Aldemita, Giám đốc khu vực Đông Nam Á kiêm Giám đốc Trung tâm Kiến thức toàn cầu về CNSH của ISAAA cho biết thêm: “Năm 2019, tổng cộng có 190,4 triệu hecta cây trồng CNSH được canh tác góp phần quan trọng vào giải quyết các vấn đề về an ninh lương thực, tính bền vững, giảm thiểu biến đổi khí hậu cũng như nâng cao đời sống của hơn 17 triệu nông dân ứng dụng CNSH cùng gia đình của họ trên toàn cầu. Việt Nam là một trong 3 nước có tốc độ tăng trưởng diện tích trồng cây CNSH đạt đến hai con số cùng với Philippines và Colombia”.

Phân tích về các tác động của cây trồng CNSH ở phạm vi toàn cầu, Tiến sỹ Graham Brookes – Viện PG Economic đã dẫn chứng các số liệu trong nghiên cứu  gần nhất phát hành năm 2020: “Tính đến năm 2018, tổng thu nhập gia tăng dành cho nông dân canh tác cây trồng CNSH là 19 tỷ đô la Mỹ - theo đó với mỗi đô la Mỹ chi phí đầu tư thêm cho hạt giống CNSH, lợi nhuận thu được thêm là 4,42 đô la Mỹ. Bên cạnh đó, chỉ tính riêng năm 2018, cây trồng CNSH cũng giúp hạn chế tổng lượng CO2 thải ra môi trường khoảng 23 tỷ kilogram tương đương với việc loại bỏ 15.3 triệu ô tô lưu thông trên đường trong 1 năm. Theo TS. Graham, nông dân đặc biệt là những nông hộ có quy mô sản xuất nhỏ tại các nước đang phát triển thu được lợi ích rõ ràng hơn từ cây trồng CNSH, không chỉ từ việc năng suất cây trồng tăng (từ 10 tới 16,5% tuỳ loại cây trồng),  lợi nhuận tăng (trung bình khoảng 103 đô la Mỹ/ha) mà còn giúp giảm lượng thuốc BVTV sử dụng từ đó giảm bớt các tác động tiêu cực lên môi trường khoảng 19% (theo chỉ sổ EIQ).

Tương lai về ứng dụng CNSH

Nhận định về tương lai về ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp, ông Nguyễn Xuân Định, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, cho biết: “Theo Quyết định số 429/QĐ-TTg ban hành ngày 24 tháng 3 vừa qua về việc phê duyệt Đề án phát triển công nghệ sinh học ngành nông nghiệp đến năm 2023, một trong các mục tiêu tới năm 2030 đó là Việt Nam có thể làm chủ được một số công nghệ sinh học thế hệ mới, tạo ra sản phẩm quy mô nông nghiệp ứng dụng thực tiễn sản xuất và phát triển số lượng doanh nghệp công nghệ sinh học rong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng thêm tối thiểu 30% so với giai đoạn 2021-2025.

ông-nguyễn-xuân-định-phó-chủ-tịch-trung-ương-hội-nông-dân-việt-nam-vnfu.jpg
Ông Nguyễn Xuân Định khẳng định, định hướng phát triển và ứng dụng CNSH trong nông nghiệp là định hướng phát triển chung bắt kịp xu hướng của Việt Nam cùng các nước trên thế giới. (Ảnh: Thanh Tâm) 

 

Điều này cũng cho thấy định hướng phát triển và ứng dụng CNSH trong nông nghiệp là định hướng phát triển chung bắt kịp xu hướng của Việt Nam cùng các nước trên thế giới trong ứng dụng các giống cây trồng thế hệ mới với các tính trạng cải tiến bằng khoa học hướng tới phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững và hiện đại.”

Ông Nguyễn Xuân Định cũng  nhấn mạnh: “Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, các chính sách về ứng dụng cây trồng CNSH trong nông nghiệp, hướng tới đảm bảo an ninh lương thực, phát triển bền vững… Chỉ thị số 50-CT/TW, ngày 04/3/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã xác định công nghệ sinh học là một lĩnh vực công nghệ cao dựa trên nền tảng khoa học về sự sống, kết hợp với quy trình và thiết bị kỹ thuật nhằm tạo ra các công nghệ khai thác các hoạt động sống của vi sinh vật, tế bào thực vật và động vật để sản xuất ở quy mô công nghiệp các sản phẩm sinh học có chất lượng cao, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.”

Cần nhân rộng các cây trồng CNSH tại Việt Nam

Tại Việt Nam, cây trồng CNSH đã được chính thức được cấp phép canh tác thương mại từ 2014-2015 trên cây ngô. Ngô cũng là một trong các cây trồng chính trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp và nước ta cũng là một trong các quốc gia canh tác ngô nhiều nhất trên thế giới. Việc đưa các giống CNSH thời điểm đó được xem là một trong các công cụ quan trọng giúp tiếp tục nâng cao năng suất và chất lượng sản xuất, gia tăng giá trị và giúp nông dân trồng ngô có thêm lợi nhuận, từ đó củng cố năng lực của Việt Nam trong việc đảm bảo nguồn cung cho chuỗi thực phẩm và thức ăn chăn nuôi trong nước.

Năm 2019, tổng diện tích canh tác ngô CNSH khoảng 92.000 héc-ta, chiếm khoảng 10% tổng diện tích trồng ngô cả nước. Đặc biệt, tỷ lệ tăng trưởng hai con số về mặt diện tích trong các năm gần đây cho thấy mức độ chấp nhận của nông dân đối với công nghệ này đang tăng. Cụ thể vào năm 2015, tỷ lệ ứng dụng còn khiêm tốn khoảng 3.500ha chiếm chưa tới 1% tổng diện tích; tới nay diện tích ứng dụng đã tăng hơn 26 lần. Chỉ so sánh riêng giai đoạn 2018 – 2019, tỷ lệ tăng trưởng là 86%.

Tham gia tại hội thảo, ông Hoàng Trọng Ngãi, người trồng và chịu trách nhiệm hướng dẫn bà con nông dân trong hợp tác xã tại huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc đã chia sẻ về lý do lựa chọn canh tác giống ngô CNSH: “Tôi và bà con tại đây đều lựa chọn trồng giống ngô công nghệ sinh học do những đặc tính tốt mà chúng mang lại, thứ nhất là kháng được sâu bệnh, hai là khả năng chống chịu tốt với điều kiện thiên nhiên, thời tiết bất thuận”. Ông Ngãi cùng bà con tại xã Đức Bác canh tác hơn 120ha ngô CNSH kể từ 2015 khi giống ngô CNSH được đưa vào trồng trọt.

ảnh-toàn-cảnh.jpg
Hội thảo thu hút tham gia của đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, nhà khoa học, đại diện Sở Nông nghiệp các tỉnh, các chuyên gia quốc tế, các công ty trong và ngoài nước, cùng đông đảo các cơ quan báo chí truyền thông. (Ảnh: Thanh Tâm)

 

Ông Nguyễn Thanh Phong, nông dân trồng ngô tại huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An cho biết ông lựa chọn trồng ngô CNSH là do lợi ích kinh tế đồng thời hiệu quả trong bảo vệ môi trường mà giống cây đem lại. “Các giống ngô CNSH đã giúp kháng các loại sâu lên tới 95%, trong khi đối với các giống ngô thường, đặc biệt vào điều kiện nhiệt độ cao như tại Nghệ An thì sâu phá hoại gần như toàn bộ, dẫn đến không còn thu hoạch. Nhờ vào việc không phải phun thuốc trừ sâu, gia đình tôi tiết kiệm được chi phí mua thuốc, chi phí phun thuốc, năng suất ngô CNSH tăng tới 20% so với trước kia. Việc không phun thuốc cũng giúp bảo vệ môi trường tốt hơn”, ông Phong chia sẻ.

Trên cơ sở thực tiễn và các lý luận khoa học đã chứng minh, ông Nguyễn Xuân Định cũng khẳng định: “Sau hội thảo này, Hội Nông dân Việt Nam, Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng và Tổ chức ISAAA sẽ tiếp tục thảo luận và phối hợp xây dựng các hoạt động tiếp theo nhằm tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nông dân về tiềm năng, lợi ích cây trồng công nghệ sinh học cũng như giải quyết các khó khăn trong nghiên cứu ứng dụng cây trồng công nghệ sinh học vào thực tiễn tại địa phương"./.

 

Thanh Tâm

Ý kiến của bạn