Những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường

KTNT Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), sự phát triển kinh tế - xã hội, điển hình là sự hình thành và hoạt động của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, khu đô thị, cùng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là những nguồn gây ô nhiễm

Gánh nặng từ sự phát triển kinh tế - xã hội

Trong dự thảo báo cáo công tác bảo vệ môi trường năm 2019, Bộ TN&MT cho biết, tính đến cuối năm 2019, cả nước có 372 Khu công nghiệp (KCN) đã được thành lập (cả trong và ngoài khu kinh tế (KKT) ven biển), trong đó có 280 KCN đã đi vào hoạt động (tăng 29 KCN so với năm 2018) và 92 KCN đang trong giai đoạn xây dựng cơ bản; 698 cụm công nghiệp (CCN) đang hoạt động (tăng 9 CCN so với năm 2018). Khoảng 4.575 làng nghề, trong đó có 2.009 làng nghề và làng nghề truyền thống được công nhận (tăng 170 làng so với năm 2018); có 833 đô thị (tăng 20 đô thị so với năm 2018), tỷ lệ đô thị hóa cả nước đạt khoảng 39,2%, tăng 0,8% so với năm 2018.

Bên cạnh đó, sự tồn tại của những dự án, cơ sở thuộc loại hình sản xuất công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường như: Luyện kim, khai thác khoáng sản, phá dỡ tàu biển, sản xuất giấy, bột giấy, dệt nhuộm, thuộc da, lọc hoá dầu, nhiệt điện, sản xuất thép, hóa chất, phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, chế biến tinh bột sắn; chế biến mía đường; chế biến thuỷ sản, giết mổ gia súc, gia cầm...

Theo thống kê của Bộ TN&MT, hiện có trên 5.000 mỏ và điểm khai thác khoáng sản; khoảng 300 doanh nghiệp sản xuất giấy, bột giấy; 25 nhà máy nhiệt điện than đã vận hành thương mại với tổng công suất lắp đặt là 18.294MW; 65 dự án sản xuất gang thép có công suất 100.000 tấn/năm trở lên…

 

moitruong-onhiem.jpg
Sự hình thành và hoạt động của các khu KCN, CCN là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường. Ảnh nguồn Internet

 

Nhiều cơ sở có nguồn phát thải lớn như Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn, Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh, các dự án nhiệt điện tại Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân, Dự án Nhà máy Alumin Nhân Cơ, Dự án “Tổ hợp Bauxite - Nhôm Lâm Đồng”...

Điều đáng nói, tính đến tháng 12/2019, trên phạm vi cả nước còn 171 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng chưa hoàn thành các biện pháp xử lý ô nhiễm triệt để.

Mặt khác, Bộ TN&MT cũng cho rằng, sự phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi cũng gây ô nhiễm môi trường. Đơn cử, năm 2019, cả nước có khoảng 31.668 trang trại nông nghiệp, trong đó có khoảng 19.639 trang trại chăn nuôi; khoảng 467 triệu con gia cầm (tăng 14,2% so với năm 2018), hơn 24 triệu con lợn. Khối lượng phân bón sử dụng khoảng 800 - 1.000kg/ha/năm; khối lượng thuốc bảo vệ thực vật là 1,6 - 2kg/ha/năm. Bình quân tổng lượng phân bón vô cơ các loại sử dụng là khoảng 2,4 triệu tấn/năm, mỗi năm thải ra môi trường khoảng 240 tấn rác thải rắn nguy hại; phát sinh 11.000 tấn bao gói thực vật.

Ngoài ra, phụ phẩm từ một số loại cây trồng chính phát sinh khoảng 94.715 nghìn tấn, trong đó cây lúa có lượng phụ phẩm lớn nhất là 52.140 nghìn tấn, cây mía là 16.914 nghìn tấn, các loại khác như sắn, ngô, cà phê, đậu tương khoảng 25.661 nghìn tấn.

Việc xây dựng các khu chung cư, khu đô thị mới, cầu đường, sửa chữa nhà, vận chuyển vật liệu và phế thải xây dựng... diễn ra ở khắp nơi, đặc biệt là các đô thị lớn cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường.

Năm 2019, tổng diện tích nhà ở tăng lên khoảng 50 triệu m2. Hiện cả nước cũng có 82 dây chuyền sản xuất xi măng với sản lượng ước đạt trên 100 triệu tấn (tăng 4,1 triệu tấn so với năm 2018); 93 cơ sở sản xuất gạch ốp lát với tổng công suất thiết kế là 821,6 triệu m2/năm; 26 cơ sở sản xuất sứ vệ sinh với tổng công suất thiết kế đạt khoảng 26,55 triệu sản phẩm/năm. Việt Nam cũng có 8 cơ sở sản xuất kính với sản lượng khoảng 308 triệu m2 quy tiêu chuẩn/năm, là một trong 5 nước có sản lượng kính lớn nhất khu vực Đông Nam Á.

Hoạt động giao thông vận tải cũng được xem là nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí, đặc biệt ở các khu vực đô thị có mật độ giao thông cao. Năm 2019, lượng phương tiện giao thông vẫn không ngừng gia tăng, cả nước có 3.673.065 xe ô tô đang lưu hành (tăng 12,2% so với năm 2018); 3.768.601 xe mô tô, xe máy, ô tô được lắp ráp, sản xuất hoặc nhập khẩu mới; vận tải hành khách đạt 5.143,1 triệu lượt (tăng 11,2% so với năm 2018).

Sức ép từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Theo thống kê của Bộ TN&MT, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động mạnh mẽ đến kinh tế, xã hội, sản xuất, thay đổi nền tảng quản lý môi trường dựa trên công nghệ Internet vạn vật.

Công nghệ mới tiết kiệm năng lượng, vật liệu mới thân thiện với môi trường… đã bước đầu thúc đẩy nhanh việc chuyển dịch từ mô hình kinh tế tuyến tính phát thải lớn sang các mô hình kinh tế carbon thấp, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn trong bối cảnh gia tăng nhanh dân số, sức ép của tăng trưởng, nhu cầu tiêu thụ các loại nhiên liệu và năng lượng làm gia tăng khai thác tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu.

 

anh-3.jpg
Những tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là những nguồn gây ô nhiễm ở nước ta hiện nay.

 

Biến đổi khí hậu tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, tác động mạnh đến môi trường, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh nguồn nước, an ninh sinh thái, an ninh lương thực, là nguy cơ hiện hữu đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững đất nước của Việt Nam. Tác động của biến đổi khí hậu làm cho vấn đề ô nhiễm, suy thoái môi trường, suy giảm đa dạng sinh học ở nước ta ngày càng phức tạp, khó lường hơn.

Ngoài ra, các vấn đề môi trường theo lưu vực sông Mê Công, sông Hồng, các sông xuyên biên giới, trên biển vẫn tiếp tục diễn ra ngày càng phức tạp. Các công trình thủy điện và các đập của những nước có chung lưu vực sông với Việt Nam đã làm thay đổi dòng chảy, giảm luồng trầm tích, sụt giảm phù sa, gia tăng mất mát đa dạng sinh học, gây ô nhiễm nguồn nước, làm gia tăng nguy cơ xói lở bờ sông, lòng sông, xâm nhập mặn, tác động tích lũy xuyên biên giới đối với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long của nước ta.

Trên biển, vấn đề nhận chìm, đổ chất thải trên biển vẫn tiếp tục diễn ra, đặc biệt là rác thải nhựa, ô nhiễm dầu từ các hoạt động hợp tác khai thác dầu khí, giao thông vận tải trên biển và sự cố tràn dầu trên Biển Đông ảnh hưởng tới các vùng ven biển ở nước ta…

Kiện toàn hệ thống pháp luật, tăng cường công tác thanh, kiểm tra

Đề cập hệ thống pháp luật Việt Nam về công tác bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp nói riêng, Tiến sĩ Trần Văn Minh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho biết: Việc thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường đã thực hiện theo hướng đồng bộ và toàn diện, đồng thời tiệm cận với các thông lệ, hiệp ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, góp phần thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp. Tiêu biểu như Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật Xây dựng năm 2014, Luật Đầu tư công năm 2019, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015, Luật Tài nguyên nước 2012...

Tính đến tháng 2/2020, Chính phủ đã ban hành 14 Nghị định, Thủ tướng Chính phủ ban hành 17 Quyết định, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ, ngành liên quan ban hành 54 Thông tư, Thông tư liên tịch, 48 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường là công cụ để quản lý và kiểm soát ô nhiễm khu công nghiệp.

 

rac2.jpg
Công an xử phạt hành chính doanh nghiệp vi phạm về bảo vệ môi trường

 

Bên cạnh đó, chính quyền các địa phương cũng ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường khu công nghiệp, trong đó có 11 văn bản của Tỉnh ủy, 51 Nghị quyết của HĐND tỉnh, thành phố, 212 Quyết định và 42 Chương trình, Kế hoạch của UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Hiện cả nước có 29 địa phương ban hành cơ chế phối hợp trong công tác quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp, cụm công nghiệp, 8 quy chuẩn địa phương (Hà Nội có 5 quy chuẩn; Hưng Yên 2; Bắc Ninh 1) và một số địa phương đang trong quá trình xây dựng.

Nhờ đó, công tác bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp đã từng bước được các cấp, ngành, doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng quan tâm, chú trọng. Các khu công nghiệp đã góp phần hạn chế phân tán cơ sở sản xuất công nghiệp, di dời cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường từ nội đô, làng nghề vào khu công nghiệp được kiểm soát chặt chẽ.

Đặc biệt, 100% khu công nghiệp có báo cáo đáng giá tác động môi trường (ĐTM) và Đề án bảo vệ môi trường chi tiết được phê duyệt; 219 khu công nghiệp đã lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động, liên tục, đạt 87,6%. Tổng công suất xử lý nước thải của các nhà máy tập trung đạt 1.031.000 m3/ngày, 8 quan trắc nước thải tự động và các công trình hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường khác. 

Theo đánh giá của Tiến sĩ Hoàng Văn Thức, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, bộ máy quản lý bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp ở các địa phương cơ bản đã được hình thành, phân cấp thực hiện chức năng quản lý theo thẩm quyền. Ban Quản lý khu công nghiệp có chức năng quản lý nhà nước; quản lý và tổ chức thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ hành chính công, dịch vụ hỗ trợ khác liên quan đến hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư thứ cấp trong khu công nghiệp.

Để tăng cường công tác kiểm soát môi trường tại các khu công nghiệp trên cả nước, công tác thanh tra, kiểm tra được xem là công cụ đắc lực trong công tác quản lý nhà nước về môi trường. Theo đó, giai đoạn 2015 - 2019, các Bộ và UBND các tỉnh, thành phố đã xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đối với 4.614 lượt cơ sở, trong đó có các khu công nghiệp, cơ sở trong khu công nghiệp với tổng số tiền gần 301 tỷ đồng.

Kết quả thanh tra, kiểm tra cho thấy, các vi phạm chủ yếu tập trung vào các hành vi: không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nội dung báo cáo tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường đã được phê duyệt; xả chất thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường; thiếu báo cáo giám sát chất thải định kỳ; lưu giữ và chuyển giao chất thải không đúng quy định. Một số cơ sở thứ cấp xả nước thải vượt tiêu chuẩn tiếp nhận của chủ đầu tư khu công nghiệp…Qua đó,các cơ sở vi phạm buộc phải khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

 

 

PV (Tổng hợp)

Ý kiến của bạn