“Tín hiệu” cần “siết” việc quản lý, sử dụng mã số vùng trồng

KTNT Theo đại diện Cục Bảo vệ thực vật, nếu không kiểm tra, giám sát tốt các vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của hàng nông sản Việt Nam và lợi ích của người nông dân.

trai.jpg
Nếu không được cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói thì nông sản không đủ điều kiện xuất khẩu theo yêu cầu của nước nhập khẩu. (Ảnh minh họa)

 

Theo đại diện Cục Bảo vệ thực vật, nếu không kiểm tra, giám sát tốt các vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích kinh tế của người nông dân. Thậm chí nguy cơ mất thị trường, không thể xuất khẩu được nữa là rất cao nếu thường xuyên có các vùng trồng, cơ sở đóng gói vi phạm quy định của nước nhập khẩu.

Cấp mã số vùng trồng theo quy định nước nhập khẩu

Theo số liệu của Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và PTNT), các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long hiện có hơn 362.000 ha cây ăn quả, chiếm hơn 34% tổng diện tích cây ăn quả của cả nước. Tỉnh Tiền Giang có diện tích cây ăn quả lớn nhất là hơn 78.000ha, tiếp đó là Vĩnh Long hơn 47.000ha, Hậu Giang hơn 36.000ha, Đồng Tháp hơn 31.000ha; các tỉnh còn lại có diện tích từ 15.000 - 28.000ha, riêng Cà Mau và Bạc Liêu diện chỉ từ 6.000 - 8.000ha.  

Chủng loại cây ăn quả ở các tỉnh Đồng Bằng sông Cửu Long gồm xoài, chuối, thanh long, cam, quýt, bưởi, nhãn, sầu riêng, mít, chôm chôm, na, vú sữa, măng cụt, ổi, roi (mận), hồng xiêm (Sapoche), mãng cầu xiêm, dứa (khóm)… Nhiều loại cây ăn quả có diện tích trồng trên 10 nghìn ha như cây có múi, xoài, nhãn, sầu riêng, chuối, thanh long, khóm (dứa), mít, chôm chôm… Hằng năm, chỉ riêng các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cung cấp cho thị trường trên 4 triệu tấn quả phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.

Việc cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói hiện nay đang được triển khai thực hiện theo quy định của nước nhập khẩu. Theo đó, chỉ có nông sản (chủ yếu là rau quả tươi) được sản xuất từ vùng trồng, cơ sở đóng gói mới được phép xuất khẩu sang các nước như Mỹ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc… và gần đây nhất là Trung Quốc. Nếu không được cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói thì nông sản không đủ điều kiện xuất khẩu theo yêu cầu của nước nhập khẩu.

Theo đại diện Cục Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và PTNT), đối với từng thị trường khác nhau thì các quy định liên quan đến cấp mã số vùng trồng có thể khác nhau nhưng tựu chung lại mục tiêu của việc cấp, quản lý và giám sát vùng trồng đã được cấp mã số là để đảm bảo truy xuất được đến từng vườn trồng, cơ sở đóng gói về các loại sinh vật gây hại đã phát hiện trên vườn trồng, các biện pháp quản lý sinh vật gây hại đã được sử dụng trên vườn trồng đặc biệt là ghi nhận về các loại thuốc bảo vệ thực vật, phân bón đã sử dụng.

Đồng thời, mỗi mã số vùng trồng được cấp không phải là không có thời hạn mà theo định kỳ, cơ quan có thẩm quyền sẽ phải tiến hành giám sát để đảm bảo vùng trồng đó vẫn đang được quản lý tốt, đáp ứng yêu cầu đặt ra. Trường hợp không đạt yêu cầu theo quy định của nước nhập khẩu, mã số sẽ bị thu hồi.

Đối với thị trường “khó tính” như EU, Mỹ, New Zealand, Hàn Quốc…. thì các quy định về vùng trồng, cơ sở đóng gói được thể hiện trong các bản điều kiện nhập khẩu nhập khẩu hoặc Kế hoạch thực hiện (Workplan) đối với từng loại nông sản cụ thể. Cũng có một số loại sản phẩm thì thực hiện theo một văn bản quy định chung của nước nhập khẩu.

Riêng đối với thị trường Trung Quốc, yêu cầu về việc trái cây xuất khẩu chính ngạch sang thị trường này phải xuất phát từ vùng trồng, cơ sở đóng gói được Bộ Nông nghiệp và PTNT cấp mã số và Tổng cục Hải Quan Trung Quốc phê duyệt được thông báo từ năm 2018 và bắt đầu chính thức áp dụng từ 2019. Do lượng trái cây xuất khẩu sang thị trường này rất lớn, lên tới 3-4 triệu tấn/năm, chủng loại đa dạng nên để không làm gián đoạn việc xuất khẩu ảnh hưởng đến người nông dân, ngay từ 2018, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã có văn bản hướng dẫn các địa phương rà soát, đăng ký các vùng sản xuất và cơ sở đóng gói tại địa phương có nhu cầu được cấp mã số theo các yêu cầu của Tổng cục Hải quan Trung Quốc.

Các địa phương đã tiến hành rà soát kiểm tra và lập hồ sơ gửi về Bộ Nông nghiệp và PTNT (Cục Bảo vệ thực vật) để đề nghị cấp mã số. Trên cơ sở đề nghị của địa phương, Cục Bảo vệ thực vật đã cấp mã số cho các vùng trồng, cơ sở đóng gói và gửi danh sách này để Tổng cục Hải Quan xác nhận và đồng ý.

Tựu chung lại các vùng trồng được cấp mã số phải đáp ứng các yêu cầu gồm: Nhận diện được vùng trồng (thường sử dụng GPS); Áp dụng thực hành nông nghiệp tốt trong đó chú trọng đến công tác ghi chép nhật ký canh tác. Nhật ký canh tác phải được lưu trữ, bảo quản tốt để phục vụ công tác truy xuất nguồn gốc khi cơ quan có thẩm quyền kiểm tra; Theo dõi thường xuyên tình hình sinh vật gây hại; Thực hiện tốt vệ sinh đồng ruộng và thực hiện tốt các biện pháp canh tác, phòng trừ sinh vật gây hại và thu hoạch để đảm bảo mật độ sinh vật gây hại luôn ở mức thấp; Đảm bảo không có dư lượng thuốc BVTV vượt ngưỡng cho phép theo quy định của nước nhập khẩu. Hoặc các yêu cầu khác tùy thuộc vào thị trường nhập khẩu và loại sản phẩm nông sản mục tiêu.

Việt Nam đang quản lý, cấp mã số vùng trồng như thế nào?

Đại diện Cục Bảo vệ thực vật cho biết, Việt Nam cũng đã đưa quy định về cấp và quản lý mã số vùng trồng vào Luật Trồng trọt (Điều 64). Theo đó, giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông hướng dẫn về việc cấp mã số vùng trồng này.

Bộ Nông nghiệp và PTNT đã giao cho Cục Bảo vệ thực vật xây dựng Tiêu chuẩn Việt Nam về viêc thiết lập và giám sát vùng trồng phục vụ xuất khẩu. Dự kiến sẽ trình ban hành trong năm 2020.

Đến nay, đối với các thị trường “khó tính”, đã cấp được 998 mã số vùng trồng, trong đó các mã số được cấp nhiều nhất là cho thị trường Hoa Kỳ (471), tiếp đó là Úc và New Zealand (393), Hàn Quốc (199) và cuối cùng là các thị trường Thái Lan, Nhật Bản, EU. Ngoài ra cũng đã cấp 47 mã số cơ sở đóng gói cho nông sản xuất khẩu sang các thị trường này.

Đối với thị trường Trung Quốc, tính đến tháng 8/2020 đã có 47 tỉnh gửi văn bản đề nghị và đã cấp được 1.735 mã số vùng trồng với diện tích trên 180 000 ha cho 9 loại quả tươi (thanh long, xoài, nhãn, vải, chôm chôm, dưa hấu, chuối, mít và măng cụt) đã được xuất khẩu chính ngạch và 1.832 mã số cơ sở đóng gói. Trong số này, xoài, nhãn, thanh long là các sản phẩm có nhiều mã số vùng trồng được cấp nhất. Riêng đối với khu vực đồng bằng sông Cửu Long hiện đã cấp 628 mã vùng trồng và 924 cơ sở đóng gói phục xuất khẩu đi thị trường Trung Quốc.

“Tín hiệu” cần “siết” quản lý mã số vùng trồng

Các vùng trồng, cơ sở đóng gói đã cấp để xuất khẩu đi các thị trường “khó tính” đang được quản lý, giám sát rất chặt chẽ. Theo đó, các cán bộ kỹ thuật của sẽ tiến hành kiểm tra thực địa, thu mẫu về để phân tích giám định trong phòng thí nghiệm, nếu đạt yêu cầu sẽ cấp mã số. Đồng thời, sau khi cấp mã số, hàng năm khi vào vụ sản xuất - thu hoạch, cán bộ kỹ thuật sẽ tiến hành giám sát tại vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số.

 

xoai95-9e07c-1597881302786196694042-16002414469021967365106.jpg
Nếu không kiểm tra, giám sát tốt các vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của hàng nông sản Việt Nam.

 

Trường hợp phát hiện các mã số này không đạt yêu cầu quy định của nước nhập khẩu sẽ yêu cầu phải khắc phục hoặc tạm ngừng không đồng ý cho sử dụng mã số đó. Cơ quan kiểm dịch thực vật của nước nhập khẩu cũng sẽ định kỳ hoặc đột xuất tổ chức kiểm tra các vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số ở Việt Nam.

Việc kiểm tra vùng trồng, cơ sở đóng gói để đề nghị cấp mã số và giám sát các mã số đã được cấp chủ yếu do các địa phương thực hiện. Sau khi kiểm tra, giám sát sẽ báo cáo kết quả về Cục Bảo vệ thực vật là cơ quan đầu mối của Bộ Nông nghiệp và PTNT để được cấp mã số và gửi thông tin sang nước nhập khẩu.

Trong thời gian qua, việc kiểm tra và giám sát các vùng trồng, cơ sở đóng gói tại các địa phương được thực hiện về cơ bản đáp ứng được yêu cầu. Tuy nhiên, tháng 6/2020, Tổng cục Hải quan Trung Quốc thông báo cho cơ quan Kiểm dịch thực vật Việt Nam về 220 lô xoài (khoảng 3.300 tấn trong tổng số 750.000 tấn đã xuất khẩu sang Trung Quốc trong năm 2019 và 2020 – chiếm khoảng 0,43% tổng lượng xuất khẩu) vi phạm quy định về kiểm dịch thực vật với nhiều nguyên nhân khác nhau.

Phía Trung Quốc yêu cầu tạm ngưng xuất khẩu xoài từ các 12 vùng trồng và 18 cơ sở đóng gói có liên quan để phối hợp tiến hành điều tra nguyên nhân, đề xuất biện pháp khắc phục và nâng cao công tác quản lý, trong đó nhiều nhất là Tiền Giang (có 15 mã số nhà đóng gói và vùng trồng), tiếp đó là An Giang (7 mã) và thấp nhất là Vĩnh Long (2 mã).

Mặc dù tỷ lệ số mã số cơ sở đóng gói và vùng trồng đang bị phía Trung Quốc tạm ngưng xuất khẩu là không lớn, nhưng đây là một “tín hiệu” cho thấy công tác kiểm tra, giám sát và quản lý mã số vùng trồng đối với các nông sản xuất khẩu cần phải được rà soát, chấn chỉnh kịp thời.

Nếu không kiểm tra, giám sát tốt các vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích kinh tế của người nông dân. Thậm chí nguy cơ mất thị trường, không thể xuất khẩu được nữa là rất cao nếu thường xuyên có các vùng trồng, cơ sở đóng gói vi phạm quy định của nước nhập khẩu.

DN chủ động bảo vệ mã số vùng trồng

Trước thực trạng một số vấn đề tồn tại liên quan đến việc quản lý, giám sát mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, Bộ Nông nghiệp và PTNT yêu cầu cần chấn chỉnh để đảm bảo chất lượng và uy tín của hàng nông sản xuất khẩu

Theo đó, Cục BVTV chủ động làm việc với cơ quan Kiểm dịch thực vật của nước nhập khẩu để cùng thảo luận các biện pháp phối hợp trao đổi thông tin trong quản lý các mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói khi tình hình dịch Covid-19 đã cơ bản được kiểm soát.

Đồng thời, Cục BVTV chủ trì, phối hợp với các địa phương tăng cường công tác tập huấn, tuyên truyền về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói cũng như các quy định của các nước nhập khẩu để chủ động triển khai kế hoạch sản xuất.

Địa phương cũng cần tăng cường mối liên kết với các vùng trồng, các cơ sở đóng gói để kiểm soát hàng hóa xuất khẩu từ các vùng trồng và cơ sở đóng gói để tránh việc mạo danh mã số, cũng như các hành vi vi phạm liên quan đến sử dụng mã số.

Chủ động tập huấn cho cán bộ kỹ thuật địa phương về các tiêu chí liên quan đến kiểm tra, giám sát vùng trồng, cơ sở đóng gói để phục vụ cấp và quản lý mã số.

Đặc biệt, các doanh nghiệp cần chủ động có các biện pháp bảo vệ mã số của mình, kịp thời thông báo có các cơ quan quản lý khi phát hiện các vi phạm liên quan đến sử dụng mã số để có phối hợp xử lý. Thông tin thường xuyên với các cơ quan quản lý về vùng trồng, nhà đóng gói cũng như quản lý hàng hóa xuất khẩu từ những mã số của mình.

Theo đó, các doanh nghiệp xuất khẩu chủ động vùng nguyên liệu bằng cách liên kết với các vùng trồng đã được cấp mã số để giữ vững và nâng cao chất lượng nông sản./.

Thanh Tâm

Ý kiến của bạn