Vì sao xuất khẩu nông sản: Sản lượng tăng, giá trị giảm?

KTNT Do khâu chế biến, bảo quản, mẫu mã, thương hiệu... chưa được chú trọng nên nông sản Việt Nam tăng lượng xuất nhưng giảm giá trị thu về.

 

ca-tra.jpg
Xây dựng thương hiệu cá tra Việt Nam, khó nhưng vẫn phải làm. Trong ảnh: Chế biến cá tra xuất khẩu tại Công ty Cổ phần xuất nhâp khẩu Thủy sản Cần Thơ. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN).

 

Hầu hết các mặt hàng nông sản 6 tháng đầu năm 2019 xuất khẩu đều gia tăng, nhưng hàm lượng giá trị trong đa số nông sản còn thấp, do khâu chế biến, bảo quản, mẫu mã, thương hiệu... chưa được chú trọng, khiến nông sản Việt Nam tăng lượng xuất nhưng giảm giá trị thu về.

Kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng 2,1%

Ông Lê Văn Thành, Chánh Văn phòng Bộ Nông nghiệp và PTNT, cho biết, 6 tháng đầu năm 2019, giá trị sản xuất nông nghiệp (bao gồm trồng trọt, chăn nuôi) tăng khoảng 1,68%; lâm nghiệp tăng khoảng 4,53% và thủy sản tăng khoảng 6,5%. 

Tổng kim ngạch xuất khẩu nông - lâm - thuỷ sản 6 tháng ước đạt 19,75 tỷ USD, tăng 2,1% cùng kỳ năm 2018. Trong đó, nhóm hàng nông sản giảm 8,8%; thủy sản tăng 0,7%; lâm sản tăng 21,2% về giá trị. 

Cơ cấu ngành hàng, sản phẩm xuất khẩu đã thể hiện khá rõ về tăng tỷ trọng các ngành, sản phẩm có lợi thế và thị trường như thủy sản (nhất là tôm nước lợ), rau, hoa, quả, các loại cây công nghiệp giá trị cao, đồ gỗ và lâm đặc sản; giảm các ngành hàng, sản phẩm đang có xu hướng tăng cung; tăng tỷ trọng hàng chất lượng cao trong tổng sản lượng sản xuất và hàng xuất khẩu.

Sắn, gạo gặp khó

Qua nửa đầu năm, một số mặt hàng nông sản tỷ đô đều gặp khó. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn chỉ đạt 1,08 triệu tấn, tương ứng với 414 triệu USD, theo đó, giảm 17,6 về khối lượng và giảm 11% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

Nguyên nhân khiến xuất khẩu sắn và sản phẩm từ sắn giảm là bởi xuất khẩu tinh bột sắn suy giảm mạnh trên cả hai kênh xuất khẩu chính ngạch và biên mậu. Nguồn cung và chất lượng sắn củ tươi giảm mạnh nên hầu hết các nhà máy chế biến tinh bột sắn tạm ngưng sản xuất khiến nguồn cung tinh bột sắn xuất khẩu khan hiếm. Bên cạnh đó, giá xuất khẩu đang giảm mạnh nên doanh nghiệp cũng có xu hướng gom hàng, tạm ngưng xuất khẩu. 

Mặt hàng gạo xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2019 cũng chỉ đạt 2,83 triệu tấn, giá trị đạt 1,21 tỷ USD, giảm 4% về khối lượng và giảm tới 20,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

Từ đầu năm 2018, Trung Quốc đã áp dụng nhiều hàng rào như tăng thuế nhập khẩu gạo nếp từ 5% lên 50% hay kiểm soát chặt nhập khẩu gạo tấm. Chưa kể, trong 150 doanh nghiệp có chức năng xuất khẩu gạo, Trung Quốc chỉ cho phép 22 doanh nghiệp được xuất khẩu sang thị trường này.

Ông Lê Thanh Hòa, Phó cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, nhận định, thị trường xuất khẩu truyền thống của Việt Nam là Trung Quốc  xuất hiện thách thức mới, dẫn đến việc bán gạo và nhiều mặt hàng nông sản cho nước này gặp khó khăn.

80% chưa có thương hiệu

Dù giá trị xuất khẩu của nhiều mặt hàng nông sản đều gia tăng, nhưng hàm lượng giá trị trong đa số nông sản còn thấp, do khâu chế biến, bảo quản, mẫu mã, thương hiệu... chưa được chú trọng. Việc liên kết trong chuỗi giá trị xuất khẩu nông sản còn yếu, dẫn tới tình trạng chất lượng, giá cả, tiêu thụ hàng hoá không ổn định.

Đặc biệt, việc tiếp cận nhu cầu thị trường, tìm hiểu thông tin khách hàng còn khá hạn chế. Điều này cũng cho thấy năng lực tham gia thương mại quốc tế của các doanh nghiệp Việt còn ở mức thấp. Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu trong nước chưa hiểu biết rõ về nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng, một phần do hạn chế về năng lực tiếp cận, mặt khác do sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý, hiệp hội ngành nghề chưa trúng, chưa thiết thực với doanh nghiệp.

Ông Trần Mạnh Báo, Tổng giám đốc Tổng công ty Giống cây trồng Thái Bình, thừa nhận, xuất khẩu nông sản còn nhiều thách thức. Đơn cử, thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam hiện nay đang đối diện với các hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật (tiêu chuẩn chế biến bảo quản gạo, chất lượng sản phẩm gạo). Chưa có sự chuyên môn hóa và hợp tác phát triển giữa các doanh nghiệp trong từng khâu: từ nghiên cứu phát triển giống gạo cho đến chế biến, xuất khẩu gạo thành phẩm.

Theo bà Phạm Quỳnh Mai, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương), các mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam có sức cạnh tranh kém, chưa có thương hiệu trên thị trường quốc tế, chủ yếu xuất khẩu dưới dạng thô nên giá trị gia tăng không nhiều và thường có giá trị xuất khẩu không cao.

Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho rằng, hơn 80% hàng nông sản được bán ra thị trường thế giới thông qua các thương hiệu nước ngoài. Do chưa có thương hiệu nên khi xuất khẩu sang các thị trường lớn, sức cạnh tranh của nhiều loại nông sản rất kém.

“Để thương hiệu thực sự bền vững, nông sản phải đáp ứng được hai yêu cầu quan trọng, đó là chất lượng và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Để đáp ứng được hai yêu cầu này, cần xây dựng những quy chuẩn phù hợp với yêu cầu của từng thị trường xuất khẩu. Có như thế chúng ta mới mong xây dựng thương hiệu bền vững cho nông sản Việt”, ông Long đề xuất.

Việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm không chỉ là nhiệm vụ của doanh nghiệp mà phải được thực hiện ở quy mô, tầm cỡ quốc gia. Để tạo lập giá trị bền vững, thương hiệu nông sản cần được gắn với chỉ dẫn địa lý mang hình ảnh quốc gia, địa phương, qua đó tạo sự khác biệt  và nâng cao giá trị thương hiệu cho sản phẩm.

Còn theo chuyên gia Cấn Văn Lực, chúng ta cần hỗ trợ phát triển thương hiệu sản phẩm với các mặt hàng xuất khẩu thông qua việc xây dựng thương hiệu quốc gia. Phát triển các kênh bán hàng ngay tại thị trường xuất khẩu.

Bà Lê Hoàng Oanh, Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Á - châu Phi (Bộ Công Thương), cho rằng, cần đổi mới công tác xúc tiến thương mại, hỗ trợ kết nối doanh nghiệp xuất khẩu và tăng cường xây dựng thương hiệu cho hàng nông sản. Song song với các phương thức xúc tiến thương mại truyền thống, cần nghiên cứu tổ chức tuần hàng hoặc lễ hội hàng nông sản đặc sắc Việt Nam trong và ngoài nước. Căn cứ nhu cầu, đặc điểm thị trường xuất khẩu, nghiên cứu xây dựng thương hiệu, bao bì riêng cho hàng nông sản Việt Nam tại từng thị trường cụ thể.

Tìm kiếm thị trường thay thế

Dù gặp nhiều rào cản trong xuất khẩu, nhưng theo ông Hòa, xuất khẩu gạo chất lượng cao của Việt Nam sang Trung Quốc  kỳ vọng sẽ tăng trở lại sau khi nước này công bố 22 doanh nghiệp được phép xuất khẩu vào thị trường này. Khi đó, xuất khẩu toàn ngành gạo sẽ tăng trưởng và ổn định trong thời gian tới.

Tuy nhiên, ngoài chờ đợi tín hiệu từ thị trường Trung Quốc, lãnh đạo Cục này cũng cho biết, sắp tới, Bộ Công Thương sẽ đàm phán hạn ngạch xuất khẩu gạo vào Hàn Quốc. Thị trường Indonesia sẽ tăng nhập khẩu gạo vào quý 3 và 4. Philippines đã mở các cuộc đàm phán về hợp đồng nhập khẩu... Khi ấy, hy vọng việc xuất khẩu gạo sẽ khởi sắc hơn.

Với mặt hàng rau quả xuất khẩu, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất, chiếm hơn 74% lượng rau quả Việt xuất khẩu. Đặc biệt, cuối tháng 4/2019, Trung Quốc đã cấp phép nhập khẩu măng cụt của Việt Nam, đây là loại trái cây thứ 9 được xuất khẩu chính ngạch vào thị trường này (sau thanh long, vải, dưa hấu, nhãn, chuối, xoài, mít, chôm chôm). Thế nhưng, ngành hàng nông sản này cũng đang nỗ lực đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường khó tính khác.

 

 

Chanh

Ý kiến của bạn