Cần đột phá để phát triển nền nông nghiệp số và nông nghiệp xanh

KTNT Ngành Nông nghiệp thực hiện các chuyển đổi quan trọng để thích ứng, trong đó có chuyển đổi số nhằm hướng đến nền nông nghiệp hiện đại, quản trị được những rủi ro, góp phần mang lại giá trị kinh tế cao hơn cho người nông dân vùng nông thôn.

 

177d4191359t65235l0.jpg
Mở rộng quảng bá sản phẩm trên ứng dụng số giúp HTX dịch vụ nông lâm nghiệp Bình Sơn (Triệu Sơn) gia tăng đáng kể lượng hàng hóa tiêu thụ.

 

Thanh Hóa: Tiến hành số hóa, đưa hình ảnh, thông tin các sản phẩm do HTX sản xuất lên sàn thương mại điện tử

Bản Thổ, xã Hóa Quỳ (Như Xuân) được thành lập năm 2020. Khởi đầu trong bối cảnh dịch COVID-19 bùng phát, tuy nhiên HTX đã tận dụng ngay không gian mạng để phát triển việc quảng bá, tiêu thụ sản phẩm. Chị Nguyễn Lê Ngọc Linh, giám đốc HTX Bản Thổ, xã Hóa Quỳ, cho biết: Hiện nay, đa phần người tiêu dùng tìm kiếm sản phẩm trên mạng Internet. Do đó, ngay khi thành lập, chúng tôi đã tích cực quảng bá sản phẩm trên các sàn thương mại điện tử và các mạng xã hội như facebook, zalo. Cũng nhờ tận dụng tốt hình thức này, 2 năm vừa qua, hoạt động của HTX vẫn giữ vững trước bối cảnh khó khăn do dịch bệnh. Năm 2022, HTX dự định đưa ra thị trường khoảng 20 tấn mật ong lên men, với 100% cách tiếp cận thông qua ứng dụng số.

Được biết, trong vài năm gần đây, trước ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, nhiều HTX trên địa bàn tỉnh cũng đã nhanh nhạy ứng dụng môi trường số để đẩy mạnh quảng bá, tiêu thụ sản phẩm, đem lại hiệu quả thiết thực. So với các phương thức tiêu thụ truyền thống, các kênh bán hàng thông qua các sàn thương mại điện tử như: Postmart.vn, Lazada, Shopee; phần mềm kết nối cung - cầu nongsanantoanthanhhoa.vn; các trang mạng xã hội như: zalo, facebook đã mở thêm cơ hội mới, giúp các HTX giới thiệu, quảng bá sản phẩm tới người tiêu dùng không giới hạn không gian qua môi trường mạng.

Ông Lê Đình Tú, giám đốc HTX dịch vụ nông lâm nghiệp Bình Sơn (Triệu Sơn), cho biết: Bên cạnh các phương thức kinh doanh truyền thống, vài năm gần đây, chúng tôi đã tiến hành số hóa, đưa hình ảnh, thông tin các sản phẩm do HTX sản xuất lên sàn thương mại điện tử, các nền tảng Internet, mạng viễn thông di động và mạng mở khác. Phương thức này đặc biệt có tác dụng đối với các sản phẩm đã được công nhận là sản phẩm OCOP.

Mặc dù, hiệu quả của chuyển đổi số đã được khẳng định rõ ràng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh nói chung, cũng như trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, tiếp cận các ứng dụng số đối với các HTX trong lĩnh vực nông nghiệp được đánh giá là còn chậm. Theo khảo sát của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn (IPSARD) cho thấy, có hơn 90% số HTX được hỏi đều đã từng được nghe và biết đến cụm từ “chuyển đổi số” và hiệu quả mang lại của chuyển đổi số đối với sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, hạn chế về trình độ tin học, nguồn lực tài chính và nguồn nhân lực vận hành khiến hoạt động chuyển đổi số tại các HTX chưa được như kỳ vọng.

Theo đánh giá của Liên minh HTX tỉnh Thanh Hóa, chuyển đổi số tại các HTX trên địa bàn tỉnh hiện vẫn mới dừng lại ở mức độ manh nha. Trong khâu sản xuất, hiện mới có một số HTX ứng dụng công nghệ 4.0 trong các khâu điều khiển hệ thống tưới tự động, hoặc HTX dịch vụ nông nghiệp và cơ giới hóa Đông Tiến (Đông Sơn) có hệ thống nhà màng trồng lan hồ điệp có hệ thống điều khiển ra hoa tại chỗ. Trong tiêu thụ sản phẩm, một số HTX đã tích cực tận dụng nền tảng số nhưng vẫn chưa rộng khắp, còn nhỏ lẻ, cục bộ.

Cũng theo đánh giá của Liên minh HTX tỉnh, với đặc thù sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ như hiện nay, các HTX chính là “cánh tay nối dài” giữa các hộ nông dân với các doanh nghiệp; đồng thời, giúp cung cấp các vật tư đầu vào, hướng dẫn người dân sản xuất theo quy trình, bảo đảm đầu ra cho các nông sản. Do vậy, ứng dụng chuyển đổi số sẽ giúp các HTX sớm nâng cao trình độ sản xuất, đặc biệt là phát triển mạng lưới tiêu thụ sản phẩm.

Được biết, để thực hiện mục tiêu chuyển đổi số tại các HTX, Liên minh HTX tỉnh đang đẩy mạnh tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về chuyển đổi số, nhằm nâng cao nhận thức cho Nhân dân, các HTX về quá trình tất yếu của chuyển đổi số và lợi ích của việc phát triển nền kinh tế số. Đồng thời, kiến nghị các bộ, ngành Trung ương ban hành các chính sách khuyến khích HTX ứng dụng công nghệ cao, tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ thông tin, công nghệ số vào quản lý, điều hành và các hoạt động sản xuất, kinh doanh của HTX. Hỗ trợ HTX đổi mới công nghệ, nâng cấp trang thiết bị, nhất là hệ thống máy tính và mạng viễn thông để thúc đẩy quá trình chuyển đổi số, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành, đi tắt, đón đầu trong tiếp cận khoa học - công nghệ. Bên cạnh đó, đơn vị sẽ cùng với các ngành liên quan hỗ trợ các HTX tập huấn kiến thức vận hành, hướng dẫn quy cách đóng gói, bao bì, quy trình bảo đảm an toàn thực phẩm để sẵn sàng tham gia trên các sàn thương mại điện tử.

Nam Định: Từng bước hướng đến nền nông nghiệp số

Trước những khó khăn do dịch bệnh COVID-19 tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội thời gian qua, kinh tế nông nghiệp của tỉnh đã thể hiện rất rõ vai trò “trụ đỡ” trong việc bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm, phục vụ đời sống của nhân dân. Song hành với những thách thức từ đại dịch cũng là “thời cơ” để ngành Nông nghiệp thực hiện các chuyển đổi quan trọng để thích ứng, trong đó có chuyển đổi số nhằm hướng đến nền nông nghiệp hiện đại, quản trị được những rủi ro, góp phần mang lại giá trị kinh tế cao hơn cho người nông dân vùng nông thôn.

 

images1341054_untitled_1.jpg
Ứng dụng cấp mã số vùng sản xuất giúp nông dân và người tiêu dùng dễ dàng truy xuất nguồn gốc sản phẩm (Trong ảnh: Sản xuất dưa lưới tại Trung tâm Giống cây trồng tỉnh).

 

Theo yêu cầu xuất khẩu hoặc tiêu thụ nội địa về nông sản trong giai đoạn hiện nay, sản phẩm phải truy xuất được nguồn gốc vùng trồng, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, thời hạn thu hoạch, quy cách đóng gói. Mới đây, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) đã có văn bản hướng dẫn cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu và chứng nhận nông sản an toàn cho các loại nông sản phục vụ chế biến xuất khẩu. Theo đó, các tổ chức, cá nhân phải thực hiện thủ tục đăng ký cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói theo yêu cầu của nước nhập khẩu. Các vùng trồng, cơ sở đóng gói đủ điều kiện sẽ được cấp mã số và được giám sát, kiểm tra định kỳ; nếu không đáp ứng được các yêu cầu sẽ bị loại khỏi danh sách các vùng trồng được phép xuất khẩu và thu hồi mã số đã cấp…

Để triển khai công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói nông sản phục vụ xuất khẩu, chứng nhận nông sản an toàn, Sở NN và PTNT đề nghị UBND các huyện, thành phố chỉ đạo Phòng NN và PTNT, Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân thực hiện theo đúng quy định. Cụ thể, đối với mã số vùng trồng, thực hiện theo Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 774:2020/BVTV về Quy trình thiết lập và giám sát vùng trồng; đối với cấp mã số cơ sở đóng gói, thực hiện theo Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 775:2020/BVTV về Quy trình thiết lập và giám sát cơ sở đóng gói do Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN và PTNT) ban hành. Các tổ chức, cá nhân đề nghị cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói gửi hồ sơ về Trạm Kiểm dịch thực vật nội địa, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh. Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy chứng nhận cơ sở trồng trọt đủ điều kiện an toàn thực phẩm (kể cả hoạt động sơ chế tại cơ sở trồng trọt), chứng nhận VietGap trồng trọt, chứng nhận nông sản hữu cơ gửi hồ sơ về Phòng Trồng trọt, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh…

Đây chỉ là một trong số những hoạt động thiết thực của ngành Nông nghiệp hướng đến mục tiêu chuyển đổi số trong quản trị sản xuất nông nghiệp thích ứng với tình trạng biến đổi khí hậu, dịch bệnh. Theo các chuyên gia, chuyển đổi số trong sản xuất nông nghiệp, tiêu thụ các loại nông sản sẽ tạo ra 3 xu thế mới, đó là: Bỏ qua khâu trung gian; phi tập trung hóa, giúp nông dân tiếp cận thông tin, công nghệ như một doanh nghiệp, xây dựng thương hiệu đến hộ nông dân, thậm chí đến từng cây, con; hình thành một phiên bản số của thế giới thực, tức là số hóa đất đai, môi trường, cây trồng, vật nuôi… Từ đó, các hoạt động quy hoạch, mô phỏng, đánh giá, phân định sẽ được thực hiện trên thế giới ảo một cách nhanh nhất, tác động trở lại một cách thực chất, hiệu quả và tối ưu. Để tạo nền tảng cho việc chuyển đổi số, theo Chi cục Quản lý Chất lượng nông, lâm sản và thủy sản (Sở NN và PTNT), thời gian qua tỉnh ta đã xây dựng và phát triển được 35 chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, 1 chỉ dẫn địa lý, 3 nhãn hiệu tập thể được chứng nhận bảo hộ; 35 cơ sở đăng ký bảo hộ nhãn hiệu độc quyền; trên 400 sản phẩm có đăng ký mã số, mã vạch; 130 doanh nghiệp ứng dụng tem có mã QR Code truy xuất nguồn gốc với trên 300 dòng sản phẩm. Tỉnh hiện có 146 sản phẩm được cấp chứng nhận sản phẩm OCOP hạng 3 sao, 4 sao là những sản phẩm có thế mạnh như: lúa gạo, thủy sản, rau, củ, quả…

Một số chuỗi có sự liên kết chặt chẽ, xây dựng nên những thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh trên thị trường nội địa và xuất khẩu như: Gạo sạch Toản Xuân, ngao sạch Lenger, muối sạch Nam Định. Bên cạnh đó, các địa phương đã xây dựng được 485 mô hình cánh đồng lớn, 100 mô hình trồng trọt, chăn nuôi, nuôi thủy sản áp dụng quy phạm thực hành sản xuất nông nghiệp tốt VietGAP; 27 nhà máy chế biến nông, lâm, thủy sản và muối áp dụng tiêu chuẩn HACCP; trên 700 cơ sở sản xuất, kinh doanh nông sản, thủy sản được thẩm tra cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm; 2 vùng nuôi ngao của tỉnh đủ điều kiện cung cấp cho chế biến xuất khẩu, trong đó vùng nuôi ngao rộng 500ha tại huyện Nghĩa Hưng được cấp chứng nhận nuôi ngao bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế ASC. Thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh, ngành Nông nghiệp đã phối hợp với các ngành, các doanh nghiệp thành lập và đẩy mạnh hoạt động của Hiệp hội Nông nghiệp sạch tỉnh, phối hợp tổ chức hội chợ kết nối nông sản; hỗ trợ các doanh nghiệp hoàn thiện điều kiện sản xuất và hồ sơ tham gia xuất khẩu vào Nhật Bản, Mỹ, châu Âu, Trung Quốc… Tuy nhiên, do tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, các chuỗi liên kết thị trường bị đứt gãy và phương thức tiêu thụ truyền thống bộc lộ nhiều bất cập đã khiến một số kênh tiêu thụ nông, thủy sản gặp nhiều khó khăn.

Nhằm tăng cường hợp tác thúc đẩy tiêu thụ nông sản an toàn tỉnh, Sở NN và PTNT đã phối hợp với Chi nhánh Viettel Nam Định thiết lập kênh tiêu thụ nông sản thông qua sàn thương mại điện tử voso.vn. Theo đồng chí Hoàng Thị Tố Nga, Phó Giám đốc Sở NN và PTNT đây là hướng đi đúng đắn, mang tính tất yếu trong thời đại công nghệ 4.0, giúp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên nền tảng số, giảm thiểu sự phụ thuộc vào thương lái và ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19. Hoạt động này giúp tạo thêm kênh thông tin nhanh, đầy đủ với chi phí thông tin, quảng bá sản phẩm thấp, các doanh nghiệp nhỏ, hộ cá thể có thể dễ dàng tham gia liên kết với người tiêu dùng. Các sản phẩm đưa lên sàn thương mại giúp cho việc quản lý chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm được thực hiện chặt chẽ, hiệu quả, tạo niềm tin cho người tiêu dùng. Với sự nỗ lực của ngành Nông nghiệp, đơn vị chức năng, bước đầu đã có 40 sản phẩm: lúa gạo, muối, thịt và rau, củ, quả của tỉnh được đưa lên 5 gian hàng trên sàn thương mại điện tử voso.vn.

Dự kiến đến cuối năm nay sẽ có trên 100 sản phẩm của tỉnh được đưa lên sàn thương mại điện tử này. Giám đốc Chi nhánh Bưu chính Viettel Nam Định Nguyễn Hoàng Hiệp cam kết: Đơn vị sẽ hướng dẫn cụ thể các địa phương, các chủ thể sản phẩm OCOP và doanh nghiệp có sản phẩm nông sản tham gia bán trên sàn voso.vn. Đồng thời sẽ tổ chức các hoạt động quảng bá sản phẩm trên các kênh online và offline định kỳ. Đồng chí Hoàng Thị Tố Nga chia sẻ thêm: để hoạt động hiệu quả, các đơn vị liên quan cần thường xuyên phối hợp tổ chức xúc tiến, kết nối tiêu thụ nông sản. Các bên cần xây dựng bộ tài liệu, quy trình tập huấn, hướng dẫn đầy đủ, chi tiết và ngắn gọn cho nông dân, doanh nghiệp, hộ kinh doanh dễ thực hiện đưa sản phẩm nông sản lên sàn thương mại điện tử. Các đơn vị doanh nghiệp, đại diện sàn thương mại cần thống nhất cách đóng gói, giao nhận hàng, hỗ trợ kỹ thuật cho các sản phẩm.

Cùng với nỗ lực đưa nông sản lên sàn thương mại điện tử, ngành Nông nghiệp còn phối hợp với Cục Quản lý chất lượng nông, lâm sản và thủy sản, Cục Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ NN và PTNT) hỗ trợ các doanh nghiệp nắm bắt, phân tích thông tin thị trường các tỉnh, xuất khẩu để vừa định hướng sản xuất vừa tìm kiếm cơ hội kết nối tiêu thụ sản phẩm. Tổ chức các hoạt động truyền thông, quảng bá, giới thiệu sản phẩm nông nghiệp an toàn và tiềm năng của các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong tỉnh, tạo điều kiện cung cấp thông tin để người tiêu dùng biết, lựa chọn sản phẩm và các doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội hợp tác thông qua việc tổ chức 3 hội chợ nông sản an toàn tại thành phố Nam Định, 46 hội nghị, hội thảo nông sản trong và ngoài tỉnh. Tích cực hỗ trợ doanh nghiệp của tỉnh hoàn thiện điều kiện sản xuất và hồ sơ để tham gia xuất khẩu chính ngạch sản phẩm thủy sản, nông sản sấy khô vào Trung Quốc; ngao trắng, muối sạch sang EU, Nhật Bản.

Chuyển đổi số trong nông nghiệp là xu thế tất yếu, là đòi hỏi khách quan của sự phát triển. Muốn thực hiện chuyển đổi số thành công thì phải đảm bảo đồng bộ, tích hợp được dữ liệu, tạo sự liên thông. Do vậy, sự vào cuộc tích cực, chủ động của các cấp, ngành chức năng, nhất là cấp ủy Đảng, chính quyền các xã, thị trấn, các thôn, đội sản xuất và đội ngũ doanh nghiệp, người nông dân là rất cần thiết và có ý nghĩa quyết định. Chuyển đổi số thành công sẽ giúp ngành Nông nghiệp tiếp tục phát triển bền vững, hỗ trợ, khắc phục khó khăn nội tại trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, góp phần giữ vững tốc độ tăng trưởng của ngành và nâng cao giá trị thu nhập cho nông dân.

Hà Nội: Cần những bước đi mạnh mẽ phát triển nông nghiệp xanh

Để giảm chi phí sản xuất nông nghiệp, tạo nguồn thực phẩm sạch, an toàn cho thị trường, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã trên cả nước đã và đang đẩy mạnh việc sử dụng các sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật sinh học, phân bón hữu cơ cho cây trồng, vật nuôi. Những mô hình nông nghiệp xanh đang từng bước khắc phục điểm yếu cố hữu của sản xuất nông nghiệp như mất an toàn thực phẩm, gây ô nhiễm môi trường; đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế cho nông dân.

 

trong-rau-mam-tai-hop-tac-x.jpg
Trồng rau mầm tại Hợp tác xã Sản xuất và Dịch vụ nông nghiệp Thanh Hà, xã Ninh Sở, huyện Thường Tín.

 

Theo Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất và Dịch vụ nông nghiệp Thanh Hà (huyện Thường Tín, Hà Nội) Bùi Thị Thanh Hà, trên diện tích 1,15ha, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất sản phẩm rau an toàn, hợp tác xã sử dụng các loại phân bón hữu cơ cho cây trồng. Sử dụng phân, thuốc hữu cơ mang lại hiệu quả, không ảnh hưởng đến môi trường và tốt cho sức khỏe người tiêu dùng. Nhờ đó, mỗi ngày hợp tác xã cung ứng gần 1 tấn rau, củ, quả cho các siêu thị, cửa hàng tiện ích trên địa bàn thành phố Hà Nội…

Còn Chủ tịch Tập đoàn Quế Lâm (tỉnh Vĩnh Phúc) Nguyễn Hồng Lam cho biết, Tập đoàn đã xây dựng được 13 công ty thành viên, 8 nhà máy sản xuất phân bón, mỗi năm đưa ra thị trường hơn 1 triệu tấn phân bón các loại và hàng trăm tấn chế phẩm sinh học. Tập đoàn Quế Lâm tập trung phát triển hệ sinh thái Quế Lâm từ sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh, chăn nuôi an toàn sinh học đến trồng trọt hữu cơ. Khi liên kết với các đơn vị, nhân viên Tập đoàn Quế Lâm luôn theo sát quá trình sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, trực tiếp ra đồng cùng người nông dân để bảo đảm quy trình được thực hiện chặt chẽ nhằm tạo ra chuỗi giá trị nông sản hữu cơ bền vững, an toàn.

Khẳng định hiệu quả các mô hình sản xuất hướng tới nền nông nghiệp xanh, Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội Chu Phú Mỹ cho biết, hiện thành phố đã có 5.044ha sản xuất rau an toàn, hơn 50ha sản xuất rau hữu cơ... cùng nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Các mô hình này không chỉ tạo nguồn thực phẩm sạch mà còn cho hiệu quả kinh tế cao hơn 15-20% so với phương thức sản xuất truyền thống; đồng thời hạn chế ô nhiễm môi trường.

Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến, hướng tới nền nông nghiệp bền vững, Bộ đã ban hành hướng dẫn kỹ thuật về phát triển nông nghiệp xanh giai đoạn 2018-2030 với mục tiêu: Xây dựng một hệ thống công nghệ hiệu quả, an toàn, giảm phát thải, tuần hoàn, thông minh và tích hợp để phát triển nông nghiệp xanh, thúc đẩy đổi mới khoa học - công nghệ. Việc này không chỉ hạn chế tình trạng mất an toàn thực phẩm mà còn nâng cao giá trị cũng như vị thế mặt hàng nông sản Việt Nam, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân và đưa Việt Nam vào tốp 15 cường quốc xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới...

Thực tế cho thấy, sản xuất thân thiện với môi trường rất có ích, không chỉ tạo ra sản phẩm sạch, an toàn mà còn góp phần phát triển nông nghiệp bền vững. Tuy nhiên, việc mở rộng các mô hình nông nghiệp xanh đòi hỏi nhiều giải pháp phải được thực hiện đồng bộ. Bởi hiện nay, quy mô sản xuất nhỏ lẻ đang là “rào cản” cho việc áp dụng hình thức sản xuất khép kín, tập trung với diện tích canh tác lớn. Trong khi đó, trình độ, năng lực tiếp cận khoa học, công nghệ còn nhiều hạn chế, nông dân vẫn sản xuất theo thói quen, sử dụng nhiều phân bón, thuốc bảo vệ thực vật nguy hại...

Để duy trì và phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp xanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia (Bộ NN&PTNT) Lê Quốc Thanh cho biết, Trung tâm đã phối hợp với nhiều đơn vị, địa phương hướng dẫn nông dân sử dụng phân bón hữu cơ bằng việc tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp kết hợp chế phẩm sinh học thay thế phân bón vô cơ. Điều này giúp giảm chi phí sản xuất, tạo ra nhiều loại nông sản sạch có giá trị cao.

Cũng về vấn đề này, theo Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội Chu Phú Mỹ, thời gian tới, Hà Nội sẽ đầu tư chuyên sâu cho các vùng nông nghiệp hàng hóa theo hướng hoàn thiện cơ sở hạ tầng sản xuất gắn với xây dựng thương hiệu... Cụ thể, với cây ăn quả sẽ tập trung vào các vùng chuyên canh theo nhóm cây trồng chủ lực (bưởi, chuối, nhãn…) quy mô hơn 20.000ha; rau màu hơn 5.000ha; hoa, cây cảnh hơn 9.000ha…, qua đó, khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác xã, doanh nghiệp xây dựng mô hình sản xuất xanh, thân thiện môi trường...

Nhận thức rõ việc hội nhập trong kinh tế nông nghiệp Việt Nam cần những bước đi mạnh mẽ, có tầm nhìn để chuyển đổi sang hệ thống lương thực, thực phẩm xanh, ít phát thải và bền vững, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan cho biết, Bộ đang xây dựng các chính sách quản lý, sử dụng tài nguyên theo hướng thân thiện môi trường, tập trung vào 2 ngành có lượng thải các bon lớn là chăn nuôi và trồng lúa. Việt Nam sẽ phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp sinh thái thông qua áp dụng đồng bộ các quy trình công nghệ; sử dụng hợp lý, tiết kiệm vật tư đầu vào trong sản xuất; sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, không ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe con người.../.

 

 

Thanh Tâm (T/h)

Ý kiến của bạn